Kinh tế

An ninh năng lượng: Việt Nam cần gỡ 3 nút thắt trước 2030

Tiểu Vũ 12/07/2026 13:53

An ninh năng lượng đứng trước 3 nút thắt về nguồn cung, vốn và chuyển đổi xanh. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng phân tích giải pháp trước 2030.

an-ninh-nang-luong-cover.png

Việt Nam trở thành quốc gia nhập khẩu ròng năng lượng từ năm 2015. Đến năm 2025, mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu đã tăng lên gần 44%, khiến nền kinh tế chịu tác động ngày càng trực tiếp từ biến động giá nhiên liệu và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII được phê duyệt ngày 15/4/2025, trong khi Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị xác định bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng cho phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hai văn bản cùng đặt ra yêu cầu lớn về nguồn điện, hạ tầng, thị trường và khả năng huy động vốn xã hội.

Trước thềm Hội thảo "An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng" do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) và Tạp chí Một Thế Giới tổ chức, ấn định vào ngày 17/7 tại TP.HCM, phóng viên Một Thế Giới đã trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng về ba nút thắt lớn đang đặt ra với ngành năng lượng: phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, cơ chế đầu tư chưa thông suốt và sức ép chuyển đổi sang điện sạch.

An ninh năng lượng dưới sức ép nhập khẩu

- Phóng viên: Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia xuất khẩu sang nhập khẩu ròng năng lượng từ năm 2015. Sự dịch chuyển này tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát, nhất là khi giá dầu thế giới tăng cao?

- Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng: Việc chuyển sang nhập khẩu ròng năng lượng là một thay đổi lớn trong cấu trúc nền kinh tế. Việt Nam ngày càng chịu tác động trực tiếp từ giá dầu, than và khí trên thị trường quốc tế.

Khi giá nhiên liệu nhập khẩu tăng, chi phí sản xuất, vận tải và lưu thông hàng hóa cũng tăng theo. Áp lực này truyền vào giá thành sản phẩm và chỉ số giá tiêu dùng, tạo ra lạm phát do chi phí đẩy.

Doanh nghiệp phải lựa chọn giữa giảm lợi nhuận, thu hẹp sản xuất hoặc chuyển một phần chi phí sang người tiêu dùng. Cả ba lựa chọn đều có thể ảnh hưởng đến sức mua và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, chính sách tài khóa và tiền tệ phải được phối hợp chặt chẽ. Nhà nước cần kiểm soát lạm phát nhưng cũng phải tránh làm chi phí vốn tăng quá mạnh, bởi doanh nghiệp đã chịu áp lực lớn từ giá nguyên liệu và năng lượng.

Các biện pháp hỗ trợ nên hướng đúng vào những ngành sử dụng nhiều nhiên liệu, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến giá hàng hóa thiết yếu. Hỗ trợ dàn trải sẽ làm tăng gánh nặng ngân sách nhưng không giải quyết được nguyên nhân của vấn đề.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng. Ảnh: Tiểu Vũ
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng. Ảnh: Tiểu Vũ

- Phóng viên: Chi phí nhập khẩu năng lượng tăng đang bào mòn sức cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước ra sao? Chính sách điều tiết giá hiện nay đã đủ sức giảm áp lực cho doanh nghiệp chưa?

- Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng: Chi phí năng lượng không chỉ nằm trong tiền điện hoặc lượng nhiên liệu doanh nghiệp sử dụng trực tiếp. Nó còn xuất hiện trong vận chuyển nguyên liệu, logistics, bảo quản, phân phối và nhiều khâu trung gian khác.

Khi tất cả chi phí cùng tăng, biên lợi nhuận của doanh nghiệp bị thu hẹp rất nhanh. Doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu tác động nặng hơn vì nguồn vốn dự phòng mỏng, khả năng đàm phán giá hạn chế và ít điều kiện đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng.

Các biện pháp giảm thuế, phí, giãn thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc sử dụng công cụ bình ổn có thể giúp thị trường vượt qua một giai đoạn biến động mạnh. Tuy nhiên, đây chủ yếu là những giải pháp ngắn hạn.

Về lâu dài, thị trường năng lượng phải minh bạch hơn từ nhập khẩu, phân phối đến hình thành giá bán. Cần giảm những tầng nấc trung gian không cần thiết và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn cung với chi phí hợp lý.

Chính sách điều tiết chỉ thật sự có tác dụng khi xử lý được các yếu tố làm chi phí tăng. Nếu chỉ can thiệp vào giá bán cuối cùng, áp lực có thể bị dồn sang ngân sách, doanh nghiệp đầu mối hoặc một khâu khác trong chuỗi cung ứng.

Phóng viên: Việt Nam đặt mục tiêu nâng năng lực dự trữ dầu thô và xăng dầu lên mức tương đương 90 ngày nhập ròng. Nguồn lực cho mục tiêu này nên được huy động như thế nào ngoài ngân sách nhà nước?

- Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng: Nâng năng lực dự trữ không chỉ là mua thêm xăng dầu. Việt Nam phải đầu tư đồng thời kho chứa, cảng tiếp nhận, đường ống, phương tiện vận chuyển, thiết bị bảo quản và hệ thống quản lý.

Nếu đặt toàn bộ gánh nặng lên ngân sách nhà nước, tiến độ đầu tư sẽ chậm và khó đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn. Ngân sách nên tập trung vào những hạng mục chiến lược, giữ vai trò vốn mồi và bảo đảm năng lực can thiệp trong tình huống khẩn cấp.

Khu vực tư nhân có thể tham gia xây dựng kho chứa đạt tiêu chuẩn, sau đó Nhà nước thuê một phần dung lượng để phục vụ dự trữ. Doanh nghiệp cũng có thể khai thác phần công suất còn lại cho hoạt động thương mại trong điều kiện bình thường.

Cơ chế này phải quy định rõ quyền sử dụng, trách nhiệm bảo quản, thời gian huy động và cách xử lý khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Nhà đầu tư chỉ tham gia khi có phương án hoàn vốn dài hạn và cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.

Hoạt động dự trữ liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia nên quá trình xã hội hóa phải đi cùng kiểm toán, giám sát và công khai thông tin. Huy động vốn tư nhân không có nghĩa là giảm vai trò quản lý của nhà nước.

6ee79654-dc90-4a96-abbe-92a93aec4396.png
Giá năng lượng nhập khẩu tăng có thể lan truyền qua nhiều khâu, từ sản xuất, vận tải đến giá hàng hóa và lạm phát. Đồ họa: Một Thế Giới.

Dòng vốn chưa đi qua những điểm nghẽn

- Phóng viên: Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đặt ra nhu cầu đầu tư rất lớn, nhưng dòng vốn tư nhân vẫn thận trọng với các dự án năng lượng tái tạo và lưới truyền tải. Nút thắt cốt lõi hiện nay nằm ở đâu?

- Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng: Dự án năng lượng thường có vòng đời từ 15 đến 30 năm. Nhà đầu tư không chỉ quan tâm mức giá tại thời điểm bỏ vốn mà còn phải tính khả năng thu hồi vốn trong nhiều năm sau đó.

Nếu cơ chế giá thay đổi liên tục, hợp đồng mua bán điện thiếu điều khoản chia sẻ rủi ro hoặc dự án hoàn thành nhưng không giải tỏa được công suất, nhà đầu tư sẽ thận trọng.

Việt Nam đã có cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn. Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện, nhất là đối với hạ tầng trong các khu công nghiệp và mô hình điện tự sản, tự tiêu.

Cơ chế giá điện cần phản ánh đúng chi phí đầu tư, vận hành và truyền tải. Hợp đồng cũng phải xác định rõ trách nhiệm khi dự án chậm đấu nối, phải giảm phát hoặc chịu thiệt hại do thay đổi chính sách.

Đối với những mô hình mới, cơ quan quản lý có thể áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Quá trình thử nghiệm giúp nhận diện rủi ro, điều chỉnh quy định và tránh việc ban hành một cơ chế chung khi thực tiễn chưa được kiểm chứng.

Điều nhà đầu tư cần nhất là một môi trường có thể dự báo. Thể chế ổn định, hợp đồng được tôn trọng và trách nhiệm của các bên được xác định rõ sẽ có giá trị hơn những ưu đãi chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.

an-ninh-nang-luong-2.png

- Phóng viên: Việt Nam cần nguồn vốn rất lớn để đầu tư điện hạt nhân, hạ tầng khí thiên nhiên hóa lỏng, lưới điện và công nghệ lưu trữ. Đâu là giải pháp để tiếp cận tài chính quốc tế và mở rộng hợp tác công tư?

- Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng: Việt Nam không thể chỉ dựa vào vốn ngân sách và tín dụng trong nước. Các dự án năng lượng phải được chuẩn hóa để tiếp cận quỹ đầu tư hạ tầng, tài chính xanh, quỹ tài sản quốc gia và các định chế tài chính quốc tế.

Muốn tiếp cận những nguồn vốn này, dự án phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị. Thông tin về công nghệ, tổng mức đầu tư, tác động môi trường, phương án hoàn vốn và trách nhiệm của từng bên cần được công bố rõ ràng.

Đối với mô hình hợp tác công tư, nhà nước phải xác định rành mạch phần việc của khu vực công và khu vực tư. Rủi ro liên quan đến quy hoạch, giải phóng mặt bằng hoặc thay đổi chính sách không thể được chuyển hoàn toàn cho doanh nghiệp.

Ngược lại, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng công trình, lựa chọn công nghệ và hiệu quả vận hành. Cơ chế chia sẻ rủi ro phải đi cùng trách nhiệm cụ thể, không thể chỉ bảo vệ một phía.

Hợp đồng cần được xây dựng theo thông lệ quốc tế và có cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng. Nhà nước không nhất thiết trực tiếp thực hiện mọi dự án, nhưng phải bảo đảm tính nhất quán của thể chế và giữ đúng các cam kết đã đưa ra.

Khi nhà đầu tư tin rằng hợp đồng được tôn trọng và chính sách không thay đổi bất ngờ, dòng vốn dài hạn mới có thể đi vào các dự án hạ tầng năng lượng.

Điện sạch trở thành điều kiện giữ thị trường

- Phóng viên: Việt Nam đang tiếp tục triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận. Xét trong dài hạn, suất đầu tư của điện hạt nhân có thể được đặt lên bàn cân như thế nào với các nguồn điện phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu?

- Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng: Điện hạt nhân đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu rất lớn, thời gian chuẩn bị dài và tiêu chuẩn đặc biệt nghiêm ngặt về công nghệ, nhân lực, an toàn và xử lý chất thải.

Tuy nhiên, khi nhà máy đi vào vận hành ổn định, chi phí nhiên liệu ít chịu biến động hơn so với các nguồn điện phụ thuộc dầu, khí hoặc than nhập khẩu. Điện hạt nhân cũng có khả năng cung cấp công suất nền liên tục, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết như điện gió và điện mặt trời.

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 189/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt để đầu tư xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2.

Điện hạt nhân có thể trở thành một cấu phần quan trọng trong hệ thống điện quốc gia. Nguồn điện này vừa góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, vừa hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải.

Tuy nhiên, không nên xem điện hạt nhân là lời giải duy nhất. Việt Nam vẫn phải phát triển năng lượng tái tạo, hệ thống lưu trữ, lưới điện thông minh và những nguồn điện có khả năng điều chỉnh linh hoạt.

Hiệu quả của điện hạt nhân phụ thuộc vào việc kiểm soát tổng mức đầu tư, lựa chọn công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng hệ thống giám sát an toàn độc lập. Nếu tiến độ kéo dài hoặc vốn đầu tư tăng quá cao, lợi thế kinh tế của dự án sẽ bị ảnh hưởng.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng tại Hội thảo
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng tại Hội thảo "Nông nghiệp thông minh" do Một Thế Giới tổ chức vào tháng 4/2025. Ảnh: Tiểu Vũ

- Phóng viên: Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu cùng xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại đang siết chặt chuỗi cung ứng toàn cầu. Cải cách thể chế năng lượng trong nước liên quan như thế nào đến sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam?

- Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng: Năng lượng sạch không còn là câu chuyện riêng của ngành điện hoặc lĩnh vực môi trường. Nguồn điện được sử dụng trong sản xuất đang trở thành một tiêu chí để thị trường nhập khẩu đánh giá mức phát thải của hàng hóa.

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu bước vào giai đoạn chính thức từ ngày 1/1/2026. Nhà nhập khẩu phải khai báo lượng phát thải gắn trong hàng hóa và thực hiện nghĩa vụ tương ứng theo quy định.

Nếu doanh nghiệp không chứng minh được lượng phát thải trong quá trình sản xuất, họ có thể chịu thêm chi phí, mất lợi thế giá hoặc gặp khó khăn khi tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế.

Doanh nghiệp xuất khẩu khó tự giải quyết bài toán này nếu hệ thống điện trong nước chưa cung cấp đủ điện sạch. Vì vậy, cải cách thể chế năng lượng phải tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn điện tái tạo, xác nhận nguồn gốc điện và truy xuất lượng phát thải.

Dữ liệu phải được đo đếm, kiểm chứng và công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế. Việc mua điện sạch sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu doanh nghiệp không thể chứng minh nguồn gốc của lượng điện đã sử dụng.

Thể chế, công nghệ và nhân lực phải được triển khai đồng thời. Thể chế mở đường cho đầu tư. Công nghệ bảo đảm khả năng đo lường và truy xuất. Nhân lực giúp doanh nghiệp vận hành hệ thống theo những tiêu chuẩn mới.

Cải cách ngành năng lượng vì thế không chỉ nhằm bảo đảm đủ điện cho sản xuất. Khả năng cung cấp điện sạch với mức giá cạnh tranh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giữ đơn hàng và thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.

- Phóng viên: Xin cảm ơn những chia sẻ của chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng

Nổi bật
      Mới nhất
      An ninh năng lượng: Việt Nam cần gỡ 3 nút thắt trước 2030
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO