Bình Ca với Quân khu Nam Đồng và Đi trốn
Tôi thích cái hóm hỉnh của Bình Ca. Nó không phải kiểu hài hước cố tình làm người đọc cười. Bình Ca để nhân vật tự gây cười.
Tôi không có duyên được đọc Quân khu Nam Đồng ngay từ lần xuất bản đầu tiên. Hồi đó tôi đang làm việc liên quan đến quyền tác giả âm nhạc nên quá bận. Khi bận, đọc sẽ phí sách. Tôi luôn biết thế. Mãi đến năm 2019, trong lần đi nghỉ dưỡng dài ngày của cơ quan, mang sách đi theo, tôi đọc luôn một hơi, xong rồi mới làm việc khác. Đọc lại lần 2, lần 3. Càng đọc, tôi càng thấy Bình Ca là một trường hợp rất thú vị: ăn chương của một người vốn không định làm nhà văn, nhưng lại có một “con mắt nhà văn” đặc biệt, một cách diễn đạt lớn, đầy ắp cảm xúc, tưởng như chữ cứ tự nhiên mà chảy thành vài trăm trang sách. Câu chuyện hấp dẫn và lối kể rất duyên, với nhiều chi tiết thật, sống động. Một sự thật chứa đựng tư tưởng.

Tất nhiên, không phải đến lúc đọc sách tôi mới biết Bình Ca. Sách nổi tiếng, tái bản liên tục thì tên tác giả, dù bận đến mấy, ai chẳng nghe tên ngay từ đầu. Thậm chí tôi còn biết tên thật của tác giả là Trần Hữu Bình, sinh năm Mậu Tuất 1958, là con trưởng của nhà văn quân đội Hữu Mai, có em trai là nhà thơ, nhà báo Hữu Việt. Nhưng Bình Ca học kinh tế và từng giữ những vị trí quản lý nhà nước, trong đó có thời gian làm Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội và Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, thì làm tôi ngạc nhiên.
Theo bài Cha tôi - nhà văn Hữu Mai trong tập truyện Cha và con của NXB Trẻ, mở đầu Bình Ca viết: “Trong kháng chiến, khi quân Pháp tấn công lên Tuyên Quang, có con đò dọc chở một gia đình tản cư xuôi dòng sông Lô về Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Lúc ngang qua bến Bình Ca, trên bờ có tiếng gọi đò. Ông cụ nằm trong khoang nói vọng ra: ‘Nếu là bộ đội thì cho đi nhờ.’ Anh bộ đội xin quá giang, sau này trở thành một nhà văn quân đội nổi tiếng, và cô thôn nữ xinh đẹp quê Ninh Bình trên chuyến đò trong đêm trăng sáng trên dòng Lô Giang ấy đã nên duyên chồng vợ. Ông cụ đồng ý cho anh bộ đội đi nhờ đêm đó là ông ngoại tôi. Con trai đầu lòng của họ được cả gia đình quen gọi là bé Bình Ca”.
Bình Ca trở thành tên tác giả, thay cho tên thật Trần Hữu Bình... Tôi cũng có một vài năm sống ở căn phòng nhỏ, trong ngôi nhà có nhiều gia đình sinh sống, trong đó có gia đình bên vợ của Bình Ca. Còn giai đoạn tuổi 20 thì chính tôi cũng ở ngay phố Nam Đồng, ngay sát khu tập thể mà Bình Ca sống… Biết đến thế mà đọc sách rồi thì lại ngại làm quen. Vì thấy ngay Bình Ca là một tác giả lớn…
Quân khu Nam Đồng
Tôi nghĩ cái làm nên sức hấp dẫn của Quân khu Nam Đồng không phải là cốt truyện đặc biệt, mà là giọng kể và cái nhìn đối với con người. Sách là những dòng hồi ức của tác giả về những đứa trẻ là con em các gia đình quân nhân sống trong khu gia binh Nam Đồng giữa Hà Nội thời chiến. Chiến tranh hiện diện, nhưng không phải bằng những trận đánh lớn; nó đi vào đời sống qua những người cha vắng nhà, những bộ quân phục cũ, những trò nghịch của trẻ con, những tình bạn, những cuộc đánh nhau, những cuộc tranh tài, những chuyện rất vụn vặt của đời sống tập thể.
Tôi thích cái hóm hỉnh của Bình Ca. Nó không phải kiểu hài hước cố tình làm người đọc cười. Bình Ca để nhân vật tự gây cười. Một đứa trẻ làm một việc ngốc nghếch, một nhóm trẻ bày trò, một cuộc đấu khẩu, một chuyện “oai” quá mức của tuổi mới lớn… Tác giả không đứng ngoài bình phẩm: “Các cậu thật ngốc!”. Ông để nguyên sự ngốc nghếch ấy, kể bằng một giọng rất tự nhiên. Người đọc cười nhưng đồng thời lại thương. Đây chính là một nét tôi cho là rất “Bình Ca”: hài nhưng không phải là sự diễu nhại ác độc; nghịch mà không tục; trêu chọc nhưng không hạ thấp nhân vật.
Người ta nói văn chương hay ở chi tiết. Những chi tiết đời thường là “vàng” của Quân khu Nam Đồng. Nếu chỉ kể lại “tuổi thơ thời chiến”, Quân khu Nam Đồng sẽ không khác nhiều hồi ký của những người cùng thế hệ. Cái hay là Bình Ca nhớ được những thứ tưởng như không đáng nhớ. Ví dụ như cách bọn trẻ tụ tập; cách chúng phân chia “lãnh địa”; những trò nghịch; chuyện ăn uống; chuyện quần áo; những cuộc đánh nhau trẻ con; cách chúng nhìn bố mẹ; những bộ quân phục; cách trẻ con tự xây dựng “luật lệ” của mình.
Chính những chi tiết nhỏ ấy làm hiện lên cả một Hà Nội và một thế hệ trẻ em. Tôi đặc biệt thích một điểm: Người lớn trong sách nhiều khi chỉ xuất hiện ở phía sau. Trung tâm thực sự là bọn trẻ. Chiến tranh cũng chỉ lùi ra phía sau. Cho nên khi đọc, ta không có cảm giác đang đọc một cuốn sách “viết về chiến tranh”, mà là đang sống lại một tuổi thơ đã nằm bên trong chiến tranh. Đấy là sự khác biệt lớn.

Vì sao Quân khu Nam Đồng tạo được hiện tượng?
Cuốn sách ra năm 2015, cho đến nay đã được tái bản 25 lần, trên 50.000 bản. Một con số đáng mơ ước của rất nhiều người cầm bút. Nhưng tôi không nghĩ đến con số bán sách. Tôi thấy người đọc thuộc nhiều thế hệ đều thấy mình trong đó.
Người từng sống ở khu gia binh và lân cận thấy tuổi thơ của mình. Người Hà Nội thấy một Hà Nội đã mất. Người sinh sau chiến tranh lại thấy một thế giới rất lạ: trẻ con có thể sống tự do, tự tổ chức đời mình và trưởng thành trong một cộng đồng rất đặc biệt. Và đối với thế hệ của Bình Ca, có lẽ còn một điều sâu xa hơn: đó là cuốn sách về một tuổi thơ mà họ biết rằng sẽ không bao giờ trở lại. Cho nên tiếng cười trong Quân khu Nam Đồng luôn có một lớp hoài niệm nằm phía dưới.
Cuốn sách thu hút tôi còn bởi “cá tính văn chương”. Ông ít lên giọng. Không triết lý dài dòng. Có một cái nhìn tinh quái với đời. Dường như ông luôn nhìn thấy mặt buồn cười của một tình huống. Rất thương nhân vật của mình. Đặc biệt là trẻ con, bạn bè, gia đình và những người cùng thế hệ. Ông coi chi tiết đời sống quan trọng hơn những câu văn bóng bẩy. Ông viết bằng trí nhớ, nhưng không biến trí nhớ thành thứ ủy mị.
Còn Đi trốn thì sao?
Đây là cuốn thứ hai của Bình Ca. Không ít người thành công vang dội một cuốn rồi thôi. (Có bao nhiêu nói hết ra rồi). Lại còn thêm. Bình Ca là “người có điều kiện”, không phải viết để duy trì cuộc sống… Tôi gặp ông ở một triển lãm mỹ thuật rồi trở nên bạn bè (vong niên, tôi hơn Bình Ca 8 tuổi). Có lần đến nhà chơi, tôi thấy Bình Ca sống có “gu”, từng chi tiết nhà cửa nói lên “khẩu vị” thẩm mỹ của ông.
Thế mà rồi cuốn Đi trốn lại xuất hiện, thậm chí còn đoạt Giải Dế Mèn. Đọc Đi trốn, tôi thấy Bình Ca đã có ý không lặp lại mình. Ông “chơi đẹp”, không lặp lại Quân khu Nam Đồng.

Đi trốn lấy bối cảnh khoảng 1965-1966, kể về một nhóm trẻ em, trong đó có những đứa là con em cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, phải rời nơi ở và bước vào một cuộc phiêu lưu giữa núi rừng, hang động, sông suối. Ninh Bình dường như đã đi vào trí tưởng tượng văn chương của Bình Ca. Tác giả không xác định chính thức địa danh cụ thể trong truyện, nhưng tôi cho rằng vùng đất trong Đi trốn liên quan tới Ninh Bình, nơi ông từng công tác.
Ông biến kinh nghiệm của một người từng làm quản lý ở Ninh Bình thành “ký ức địa lý”. Ông đưa thiên nhiên Ninh Bình: hang động, sông nước, núi rừng, thú vật, những con đường, những vùng hoang sơ vào cuộc phiêu lưu của trẻ con một cách tài tình và hấp dẫn. Dường như có sự “phân thân”: vừa nhập vào nhân vật, vừa đứng ngoài quan sát tỉnh táo. Nhà văn, khác nhau và hơn nhau ở khả năng quan sát.
Nếu Quân khu Nam Đồng là ông nhớ lại tuổi thơ của mình thì Đi trốn ông dựng lại một thế giới tuổi thơ. Ở Quân khu Nam Đồng, ký ức dẫn đường. Ở Đi trốn, cấu trúc tiểu thuyết dẫn đường. Đi trốn có tính hư cấu rõ hơn.

Tính chuyên nghiệp
Bình Ca không “làm văn”, mà hai cuốn sách đã khiến tôi thấy tính chuyên nghiệp cao của nhà văn. Mặc dù ông không thích nói gì về điều đó. Rất kiệm lời, và rất duyên ngay cả khi không nói. Nếu nói thì hóm. Ông là kiểu người đã sống, đã làm việc, đã quan sát nhiều kiểu người, thận trọng đấy mà cởi mở đấy, tùy theo người đối diện.
Văn Bình Ca có một vùng riêng: Tuổi thơ của những đứa trẻ lớn lên trong một đất nước có chiến tranh, nhưng bản thân chúng vẫn sống một đời sống trẻ con. Bình Ca không biến trẻ em thành những “nhân vật biểu tượng”. Ông để chúng là trẻ con. Chúng vẫn ích kỷ. Vẫn ganh tị. Vẫn khoe khoang. Vẫn sợ. Vẫn nghịch. Vẫn yêu. Và chính vì thế chúng thật…
Tôi nghĩ Bình Ca tự cho mình một “món nợ” rất đẹp với thời gian. Và ông trả món nợ ấy bằng cách viết. Những trang viết ấy có thể cứu những chi tiết nhỏ khỏi sự biến mất. Một thế hệ rồi sẽ qua đi. Những khu tập thể rồi sẽ thay đổi. Những trò chơi của trẻ con sẽ khác đi. Những kiểu nói chuyện sẽ không còn. Những quan hệ cộng đồng đặc biệt của một thời cũng sẽ chìm vào quên lãng. Văn chương của Bình Ca có thể giữ lại những điều đó. Không phải bằng cách dựng một tượng đài. Mà giữ lại bằng cách kể.
Và điều bất ngờ là cái ông có nhiều nhất lại chính là thứ một nhà văn cần nhất: một đời sống đủ dày để nhớ lại, một trái tim yêu thương để dựng lên những nhân vật có sắc thái. Bình Ca đã không cố làm cho quá khứ trở nên đẹp hơn. Ông chỉ kể lại nó đủ thật để người đọc tự thấy nó đẹp. Và đấy chính là sự chuyên nghiệp và tài hoa.





