‘Bỏ quên' đinh nẹp trong cơ thể: Khi can xương biến dụng cụ cố định thành 'bẫy ngầm'
Để dụng cụ kết hợp xương quá lâu trong chân, một cô gái trẻ ở TP.HCM bị can xương siết chặt đinh vít, biến ca tiểu phẫu tháo đinh thông thường thành cuộc đại phẫu phức tạp.
Thông tin trên được BSCKII Nguyễn Bảo Dũng - Quản lí điều hành Khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Khu vực Hóc Môn chia sẻ vào chiều 21/9. Bác sĩ cảnh báo việc lưu giữ dụng cụ y tế quá thời hạn quy định sẽ biến những chiếc nẹp cứu xương thành những chiếc "bẫy ngầm", gây khó khăn lớn cho các can thiệp ngoại khoa về sau.
Hết đau không có nghĩa là có thể “quên” đinh, nẹp, vít
Sau gần 4 năm mang đinh và nẹp vít ở cẳng chân cùng cổ chân hai bên, một phụ nữ trẻ đã đến Bệnh viện Đa khoa Khu vực Hóc Môn (TP.HCM) với mong muốn tháo dụng cụ kết hợp xương.

Kết quả thăm khám và chụp X-quang cho thấy xương đã liền tốt, đủ điều kiện để phẫu thuật tháo dụng cụ. Tuy nhiên, những gì ê kíp bác sĩ nhìn thấy khi tiếp cận vùng tổn thương cũ hoàn toàn khác với một ca tháo nẹp thông thường: can xương phát triển mạnh, bao phủ và bám rất chặt vào gần như toàn bộ bề mặt đinh, nẹp và vít.
“Quá trình liền xương của bệnh nhân này đã tạo ra một lớp can xương bám chặt vào dụng cụ. Can xương vốn là cơ chế cơ thể hình thành mô xương mới để sửa chữa vùng xương bị tổn thương. Thế nhưng, khi phát triển bao phủ dụng cụ, nó lại khiến việc lấy đinh, nẹp, vít ra trở nên phức tạp hơn nhiều”, bác sĩ Dũng cho biết.
Đây cũng là điểm đáng lưu ý đối với những người từng phẫu thuật kết hợp xương: quyết định giữ hay tháo dụng cụ không nên dựa đơn thuần vào cảm giác đau hay hết đau. Thay vào đó, việc này cần được đánh giá bởi bác sĩ chuyên khoa dựa trên vị trí gãy, loại dụng cụ, tình trạng liền xương và đặc điểm cơ địa của từng người bệnh.
Can xương bám chặt biến ca tháo nẹp thành cuộc phẫu thuật khó
Theo BSCKII Nguyễn Bảo Dũng, chính lớp can xương phát triển quá mạnh khiến các bộ dụng cụ tháo lắp thông thường không thể phát huy hiệu quả. Ê kíp phải sử dụng màn hình tăng sáng C-arm để xác định chính xác vị trí của dụng cụ nằm sâu trong xương. Do nằm lại quá lâu và bị can xương giữ chặt, một số con vít đã bị tuôn đầu khi bác sĩ thực hiện thao tác vặn.
“Tình trạng vít bị tuôn đầu khiến dụng cụ tháo vít thông thường không còn tác dụng. Nếu xử lý không phù hợp, nguy cơ không lấy được toàn bộ dụng cụ hoặc phải can thiệp xâm lấn nhiều hơn sẽ tăng lên, đồng thời dễ gây tổn thương phần xương lành xung quanh. Vì vậy, chúng tôi phải cố gắng tháo bằng lực cơ học đơn thuần, tiến hành tỉ mỉ từng bước: khoan phá có kiểm soát vùng mũ và chân vít, đồng thời bóc tách phần can xương với độ chính xác cao nhằm hạn chế tối đa tổn thương cấu trúc xương lành. Sau phẫu thuật, toàn bộ dụng cụ được lấy ra an toàn và người bệnh hồi phục tốt”, bác sĩ Dũng chia sẻ.
Tháo quá sớm hay để quá lâu đều tiềm ẩn rủi ro
Theo các chuyên gia chấn thương chỉnh hình, một trong những sai lầm thường gặp là người bệnh tự ý quyết định thời điểm tháo đinh, nẹp, vít chỉ vì cảm thấy vướng víu. Nếu dụng cụ được lấy ra khi xương chưa đủ khả năng chịu lực, ổ gãy cũ có thể đối mặt với nguy cơ gãy lại, di lệch, chậm liền xương hoặc hình thành khớp giả.
Ở chiều ngược lại, việc để dụng cụ quá lâu cũng khiến quá trình tháo trở nên gian nan hơn. Lí do là can xương có thể phát triển bao phủ và bám chặt vào dụng cụ, biến một thủ thuật vốn được kì vọng tương đối đơn giản thành cuộc phẫu thuật phức tạp, đòi hỏi thiết bị hỗ trợ và kĩ thuật cao.
Do đó, thời điểm tháo dụng cụ kết hợp xương không nên quyết định theo một mốc thời gian cứng nhắc cho tất cả mọi người. Bác sĩ cần đánh giá kĩ tình trạng liền xương trên lâm sàng lẫn hình ảnh học, đồng thời cân nhắc đặc điểm của từng ca trước khi đưa ra chỉ định.
Một hiểu lầm phổ biến khác là sau khi tháo đinh, nẹp, vít, người bệnh có thể lập tức trở lại mọi hoạt động như trước khi bị chấn thương. Thực tế, tại vị trí từng đóng vít vẫn tồn tại những lỗ rỗng và khoảng trống trong cấu trúc xương, cơ thể cần thời gian để tái cấu trúc và lấp đầy.
“Vì vậy, trong giai đoạn đầu sau khi tháo dụng cụ, người bệnh vẫn cần tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn của bác sĩ: hạn chế vận động mạnh, tránh mang vác nặng và đặc biệt là phòng ngừa nguy cơ té ngã. Cảm giác hết đau không đồng nghĩa với việc xương đã ngay lập tức đạt được độ bền cơ học như ban đầu”, bác sĩ Dũng khuyến cáo.
-de45cf8dc536d835747c0af90967fa6d.jpg)



