Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn: 'Cần chuyển từ tư duy 'ổn định để phát triển' sang 'ổn định để bứt phá'
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp có chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” diễn ra sáng 18/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã có bài phát biểu, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới việc đổi mới tư duy.
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức điều hành
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, trong 6 tháng đầu năm 2026, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Các khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, du lịch, xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực. Công tác hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và tháo gỡ các dự án tồn đọng cũng được triển khai quyết liệt, tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.
Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số trong những năm tới đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức điều hành.
“Chúng ta cần chuyển từ tư duy “ổn định để phát triển” sang “ổn định để bứt phá”, từ “cải thiện môi trường kinh doanh” sang “kiến tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia”, từ “hỗ trợ doanh nghiệp” sang “trao quyền, tạo điều kiện và đồng hành để doanh nghiệp phát triển”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

Điều quan trọng hơn cả là phải khơi thông đồng bộ các nguồn lực về vốn, đất đai, khoa học - công nghệ, hạ tầng, nhân lực và thị trường; đồng thời hình thành mối liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, qua đó tạo nên một hệ sinh thái phát triển thống nhất, phát huy tối đa sức mạnh của từng khu vực doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế.
Cả nước có gần 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 30,6 triệu tỉ đồng
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đến hết tháng 6/2026, cả nước có gần 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 30,6 triệu tỉ đồng. Khu vực doanh nghiệp đóng góp trên 60% GDP, tạo việc làm cho hơn 17,6 triệu lao động và chiếm tỉ trọng chủ yếu trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.
Trong 6 tháng đầu năm, cả nước có gần 170.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng 11,2% so với cùng kỳ; trong đó có gần 111.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,5%. Tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới đạt khoảng 1,4 triệu tỉ đồng, tăng 64,8%; quy mô vốn bình quân đạt 12,22 tỉ đồng/doanh nghiệp, tăng 35,7%. Tỉ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi trong năm 2025 đạt 42,6%, cao hơn 5,5 điểm phần trăm so với năm trước.
Những kết quả trên cho thấy sức chống chịu, khả năng thích ứng và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang từng bước được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Doanh nghiệp tư nhân tiếp tục là động lực quan trọng của nền kinh tế
Khu vực doanh nghiệp tư nhân tiếp tục là động lực quan trọng của nền kinh tế khi chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp và 78,2% tổng vốn đăng ký. Khu vực này giữ vai trò chủ lực trong huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm và đóng góp ngân sách nhà nước.
Riêng 6 tháng đầu năm 2026, thu ngân sách từ khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 381.400 tỉ đồng, tăng 47,1% so với cùng kỳ. Trong tổng số 564 công trình, dự án được khởi công, khánh thành đồng loạt trong năm 2025, khu vực tư nhân đóng góp khoảng 3,84 triệu tỉ đồng, tương đương 74,6% tổng vốn đầu tư.
Tuy nhiên, khu vực kinh tế tư nhân vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản về tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và thị trường.
Doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ nhiều nguồn lực trọng yếu của nền kinh tế
Báo cáo từ Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng cho biết, đối với doanh nghiệp nhà nước, mặc dù chỉ có 695 doanh nghiệp, nhưng đang nắm giữ nhiều nguồn lực trọng yếu của nền kinh tế trong các lĩnh vực năng lượng, hạ tầng, viễn thông, tài chính, vận tải, khai khoáng và quốc phòng, an ninh. Năm 2025, khu vực này có tổng tài sản khoảng 4,5 triệu tỉ đồng, vốn chủ sở hữu 2,02 triệu tỉ đồng, doanh thu gần 2,9 triệu tỉ đồng và lợi nhuận trước thuế khoảng 261.000 tỉ đồng.
Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và triển khai nhiều dự án chiến lược quốc gia. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động giữa các doanh nghiệp còn chưa đồng đều; tiến độ đầu tư của một số dự án còn chậm.
Doanh nghiệp FDI: Tổng vốn đăng ký đạt trên 562,7 tỉ USD, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, xuất khẩu
Đến nay, cả nước có 41.874 doanh nghiệp FDI đang hoạt động với 47.132 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt trên 562,7 tỉ USD. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần đạt trên 34,65 tỉ USD, tăng 61%; vốn thực hiện đạt trên 13 tỉ USD, tăng 11,2%.
Khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, xuất khẩu và chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, tỉ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và phát triển hệ thống nhà cung ứng Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Nhìn tổng thể, cả ba khu vực doanh nghiệp đều có những lợi thế và đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, sự liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI còn thiếu chặt chẽ; chưa hình thành được các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng nội địa có sức lan tỏa lớn.
Đây cũng chính là một trong những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ để khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực của nền kinh tế, nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn
6 khó khăn, vướng mắc chủ yếu của doanh nghiệp: Thể chế và tổ chức thực hiện vẫn là điểm nghẽn lớn nhất.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, qua tổng hợp ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và kết quả rà soát của các bộ, ngành, có thể khái quát những khó khăn, vướng mắc hiện nay thành 6 nhóm vấn đề lớn.
Thứ nhất là về thể chế và tổ chức thực hiện. Đây vẫn là điểm nghẽn lớn nhất. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; việc ban hành văn bản hướng dẫn ở một số lĩnh vực còn chậm; cách hiểu và tổ chức thực hiện giữa các cơ quan, địa phương chưa thống nhất. Thủ tục hành chính tuy đã được cải cách nhưng vẫn còn tình trạng phân tán, thiếu liên thông.
Thứ hai là về tiếp cận các nguồn lực phát triển. Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đất đai và các nguồn lực sản xuất. Thị trường vốn, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và các kênh huy động vốn trung, dài hạn chưa phát huy đầy đủ vai trò. Những vướng mắc về quỹ đất, xác định giá đất, giải phóng mặt bằng và thực hiện nghĩa vụ tài chính tiếp tục làm tăng chi phí, kéo dài thời gian đầu tư.
Thứ ba là về chi phí sản xuất, kinh doanh và dòng tiền. Giá nguyên liệu, năng lượng, logistics, vốn và lao động vẫn ở mức cao; trong khi các yêu cầu mới về tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội làm gia tăng chi phí tuân thủ. Việc chậm thanh toán, hoàn thuế, giải ngân hoặc xử lý các thủ tục liên quan cũng tạo thêm áp lực đối với dòng tiền và vốn lưu động của doanh nghiệp.

Thứ tư về thị trường và chuỗi cung ứng. Xu hướng bảo hộ thương mại, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu về ESG, giảm phát thải và cơ chế điều chỉnh carbon đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ năm về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Cơ chế khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm mới chưa thật sự mạnh; liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế. Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực số, nhân lực công nghệ và lao động kỹ thuật, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ sáu về liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp. Mối liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn lỏng lẻo.
6 nhóm giải pháp chung cho doanh nghiệp
Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đề xuất các giải pháp chủ yếu để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế.
- Hoàn thiện thể chế, cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh. Khẩn trương rà soát, sửa đổi đồng bộ pháp luật về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy, đấu thầu, doanh nghiệp, thuế, hải quan và quản lý chuyên ngành; bảo đảm văn bản hướng dẫn được ban hành kịp thời và có quy định chuyển tiếp rõ ràng. Chuyển mạnh từ tiền kiểm truyền thống sang hậu kiểm dựa trên dữ liệu, trên cơ sở quản lý rủi ro. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ giải quyết, khắc phục tình trạng né tránh, sợ sai và đùn đẩy.
- Đẩy nhanh tái thiết kế thủ tục hành chính trên nền tảng số, không chỉ số hóa hồ sơ giấy. Thực hiện nguyên tắc doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần; kết nối, chia sẻ dữ liệu; công khai đầu mối, tiến độ và tình trạng xử lý hồ sơ; tự động cảnh báo hồ sơ quá hạn.
- Khơi thông dòng vốn và dòng tiền cho doanh nghiệp: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho vay dựa trên dòng tiền, dữ liệu, hợp đồng, đơn hàng, khoản phải thu,…; mở rộng phạm vi tài sản bảo đảm đối với động sản, hàng tồn kho, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, sở hữu trí tuệ, phần mềm và dữ liệu. Phát triển đồng bộ thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính và tài trợ chuỗi cung ứng…
- Tháo gỡ vướng mắc đất đai, dự án và phát triển hạ tầng: Hoàn thiện quy trình lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính theo hướng rõ thủ tục, phương pháp, thời hạn và trách nhiệm…Đẩy nhanh hạ tầng chiến lược về giao thông, logistics, năng lượng, khu công nghiệp và hạ tầng số; bảo đảm cung ứng điện ổn định cho các dự án công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và công nghiệp chiến lược.
- Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và chi phí tuân thủ: Thực hiện thống nhất mã hàng, tiêu chuẩn, quy chuẩn và phương pháp kiểm tra; công nhận kết quả thử nghiệm, chứng nhận còn hiệu lực. Áp dụng phân loại rủi ro để miễn, giảm kiểm tra đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt… Rà soát giá, phí, phụ phí logistics; kết nối dữ liệu giữa cảng, kho, vận tải, hải quan và cơ quan kiểm tra chuyên ngành nhằm giảm thời gian lưu kho, lưu bãi và thông quan.
- Mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo: Đổi mới xúc tiến thương mại theo từng ngành hàng, thị trường và FTA; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, ESG, truy xuất nguồn gốc, phòng vệ thương mại…