Chuyển đổi số về tận thôn bản, đồng bào vùng cao bớt đường xa làm thủ tục
Từ mô hình “Thôn số” đến các tổ công nghệ số cộng đồng, dịch vụ công đang được đưa gần hơn tới đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.
Đường núi xa, địa hình chia cắt từng khiến một thủ tục hành chính đơn giản cũng trở thành hành trình mất nhiều giờ đối với người dân vùng cao. Có những nơi, muốn nộp hồ sơ hoặc bổ sung giấy tờ, người dân phải vượt hơn 10 km đường núi để đến trung tâm xã.
Chuyển đổi số đang từng bước thay đổi thực tế này
Máy tính kết nối Internet được đưa về thôn. Điện thoại thông minh được sử dụng để tra cứu thông tin, sử dụng VNeID, sổ sức khỏe điện tử và thực hiện một số thủ tục trực tuyến. Quan trọng hơn, cán bộ, giáo viên và thành viên tổ công nghệ số cộng đồng đang đến tận hộ dân hướng dẫn từng thao tác.

Tại nhiều địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, khoảng cách giữa người dân với cơ quan hành chính vì thế không còn phụ thuộc hoàn toàn vào quãng đường địa lí.
Khi dịch vụ công về tận thôn vùng cao
Suối Chải là một trong những thôn xa và khó khăn của xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Thôn có 86 hộ, 100% dân số là đồng bào dân tộc Dao. Địa hình đồi núi dốc, phần lớn đường giao thông là đường đất men theo sườn núi. Người dân phải di chuyển hơn 10 km để tới trung tâm xã và mất nhiều giờ đi đường. Mùa mưa, việc di chuyển càng khó khăn.
Từ điều kiện thực tế của địa bàn, xã Bát Xát triển khai mô hình “Thôn số” tại Suối Chải. Thôn được trang bị máy tính có kết nối Internet, đồng thời tổ chức tập huấn để cán bộ và người dân từng bước sử dụng các dịch vụ số.
Mô hình hỗ trợ người dân cài đặt và sử dụng định danh điện tử, thực hiện một số hồ sơ hành chính công trực tuyến, tiếp nhận thông tin của chính quyền. Những thủ tục đơn giản trước đây phải xuống trung tâm xã nay có thể được hỗ trợ thực hiện tại thôn.
Anh Sùng A Hành, người dân thôn Suối Chải, là một trong những người trực tiếp trải nghiệm sự thay đổi này.
Chia sẻ với phóng viên Một Thế Giới, anh nói: "Trước đây mỗi lần làm thủ tục cho con, tôi phải xuống trung tâm xã, vừa mất thời gian vừa tốn chi phí đi lại". Khi có mô hình “Thôn số”, người dân được hướng dẫn làm thủ tục tại nhà văn hóa thôn, giảm đáng kể việc đi lại.
Ở Suối Chải, trường học cũng tham gia vào quá trình đưa công nghệ đến gần người dân.
Cô Hà Thị Bền, Hiệu trưởng Trường Mầm non Phìn Ngan, cho biết trường phối hợp với các thôn hỗ trợ hoạt động chuyển đổi số. Trường có 9 điểm trường lẻ, tại mỗi điểm đều bố trí giáo viên phụ trách công nghệ thông tin để hướng dẫn cán bộ thôn, đảng viên và người dân thao tác thủ tục hành chính, tham gia các hoạt động trực tuyến.
Theo cô Hà Thị Bền, giai đoạn đầu, một số cán bộ lớn tuổi còn e ngại khi làm việc trên nền tảng số, nhiều người dân vùng cao chưa quen sử dụng dịch vụ trực tuyến. Các tổ công nghệ số cộng đồng phải đến tận bản hướng dẫn. Khi nhìn thấy lợi ích cụ thể, người dân dần chủ động sử dụng.
Thực tế này cho thấy một chiếc máy tính hay điện thoại thông minh chưa đủ để xóa khoảng cách số.
Với người cao tuổi, người ít sử dụng công nghệ hoặc hạn chế kĩ năng đọc, viết, một thủ tục trực tuyến vẫn có thể trở thành rào cản nếu không có người hướng dẫn. Vì vậy, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chuyển đổi số đang cần một lực lượng trung gian tại chỗ để biến công nghệ thành công cụ mà người dân thực sự sử dụng được.
Từ Suối Chải, mô hình đang được mở rộng. Đầu năm 2026, xã Bát Xát đã triển khai “Thôn số” tại 7 thôn vùng cao, xa trung tâm và có điều kiện giao thông khó khăn. Địa phương đặt mục tiêu tiếp tục nhân rộng mô hình trong năm 2026.
Ông Vũ Hồng Phương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Bát Xát, cho rằng việc phổ cập tri thức số cho người dân vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa trong thu hẹp khoảng cách số, để người dân không bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi.
Câu chuyện tương tự đang diễn ra tại xã Xuân Phú, thành phố Đồng Nai. Tại đây, ông Hoàng Hồng Quay, người dân tộc Tày, Tổ trưởng Tổ công nghệ số cộng đồng, cùng cán bộ địa phương đã đến từng hộ hướng dẫn người dân sử dụng các tiện ích số.

Việc hỗ trợ bao gồm cài chữ ký số, sổ sức khỏe điện tử và sử dụng những tiện ích trên ứng dụng VNeID. Với người lớn tuổi hoặc hạn chế khả năng đọc, viết, các thành viên phải hướng dẫn nhiều lần, theo cách “cầm tay chỉ việc”.
Tại địa bàn ấp Đông Minh cũ, 300 trong tổng số 560 hộ đã có chữ ký số cá nhân trên VNeID; 92% người dân từ 14 tuổi trở lên được hỗ trợ cài đặt định danh điện tử mức độ 2. Khoảng 26% người dân tại địa bàn đã biết sử dụng thương mại điện tử để mua, bán sản phẩm hoặc thanh toán không dùng tiền mặt.
Ông Điểu Lăng, người dân ấp Lang Minh, cho biết trước đây nhiều công việc phải đến cơ quan chức năng, trong khi hiện nay một số thủ tục đã có thể thực hiện thuận tiện hơn bằng điện thoại thông minh.
Những thay đổi này cho thấy chuyển đổi số ở vùng xa đã giúp người dân không phải đi lại, số giấy tờ không phải mang theo và thời gian giải quyết công việc được rút ngắn.
Thu hẹp khoảng cách số phải bắt đầu từ người dân
Chuyển đổi số trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện đã trở thành một nhiệm vụ có định hướng ở cấp quốc gia.
Ngày 2/10/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1087/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tăng cường chuyển đổi số lĩnh vực công tác dân tộc đến năm 2030”. Đề án đặt ra định hướng ứng dụng công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số trong quản lý công tác dân tộc, đồng thời thúc đẩy khả năng tiếp cận môi trường số của vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bước sang năm 2026, hạ tầng dữ liệu dân cư, định danh điện tử và dịch vụ công tiếp tục được đặt trong một giai đoạn triển khai mới.
Ngày 11/5/2026, Quyết định 826/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2026 đến 2030, tầm nhìn đến năm 2035 được ban hành.
Một trong những mục tiêu đến năm 2030 là hoàn thiện các nền tảng và tiện ích cốt lõi để người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ số thuận tiện, nhanh chóng, an toàn, giảm rào cản về giấy tờ và thủ tục hành chính. Xa hơn, chương trình hướng tới việc giao dịch giữa người dân với chính quyền được thực hiện trên môi trường số.
Ở đô thị, một người dân có thể chỉ mất vài phút hoặc vài cây số để đến cơ quan hành chính. Nhưng tại thôn Suối Chải, quãng đường tới trung tâm xã hơn 10 km lại là đường đồi núi, thời gian di chuyển có thể tính bằng nhiều giờ. Một hồ sơ phải đi bổ sung thêm một lần đồng nghĩa với thêm chi phí, thêm thời gian và có thể mất một buổi hoặc một ngày lao động.
Vì vậy, hiệu quả chuyển đổi số ở những địa bàn này không nên chỉ đo bằng số tài khoản được kích hoạt hay tỷ lệ hồ sơ trực tuyến.
Câu hỏi đặt ra là người dân có thực sự làm được thủ tục hay không? Một người lớn tuổi có thể tự đăng nhập VNeID không? Người dân có hiểu dịch vụ nào có thể thực hiện trực tuyến? Khi gặp lỗi, họ tìm ai hỗ trợ? Đường truyền tại thôn có đủ ổn định? Thiết bị của người dân có đáp ứng yêu cầu? Đây chính là khoảng cách giữa “có dịch vụ số” và “sử dụng được dịch vụ số”.
Thực tế ở Bát Xát và Xuân Phú cho thấy tổ công nghệ số cộng đồng đang góp phần lấp khoảng trống này. Thay vì yêu cầu người dân tự tìm hiểu ứng dụng, lực lượng tại cơ sở đến từng thôn, từng hộ để hướng dẫn.
Trường học cũng có thể trở thành một mắt xích quan trọng
Tại vùng cao, điểm trường thường là một trong những nơi có máy tính, Internet và đội ngũ có khả năng sử dụng công nghệ tương đối tốt. Việc giáo viên Trường Mầm non Phìn Ngan tham gia hỗ trợ người dân Suối Chải cho thấy nguồn lực sẵn có này có thể được khai thác để phục vụ cả cộng đồng.
Ở quy mô giáo dục rộng hơn, bà Lục Thúy Hằng, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, từng cho biết nhà trường xác định đầu tư cơ sở vật chất và đẩy mạnh chuyển đổi số là hai trụ cột trong nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số, hướng tới rút ngắn khoảng cách giữa vùng cao và miền xuôi.
Tuy nhiên, số hóa cũng tạo ra những yêu cầu mới. Người dân mới làm quen môi trường số có thể trở thành nhóm dễ bị tổn thương trước tin giả, đường link giả mạo hoặc các thủ đoạn lừa đảo trực tuyến. Việc hướng dẫn cách sử dụng dịch vụ công vì thế cần đi kèm kỹ năng bảo vệ tài khoản, mật khẩu và thông tin cá nhân.
Chuyển đổi số ở thôn, bản do đó không thể dừng ở việc phủ sóng Internet hay cài một ứng dụng.
Hạ tầng phải đến được nơi người dân sinh sống, thủ tục phải đủ đơn giản. Người lớn tuổi phải có người hỗ trợ. Đồng bào chưa thành thạo tiếng Việt hoặc kĩ năng công nghệ cần được hướng dẫn bằng cách dễ hiểu. Khi dịch vụ thay đổi, lực lượng hỗ trợ tại cơ sở cũng phải được cập nhật.
Từ nhà văn hóa thôn Suối Chải đến từng hộ dân ở Xuân Phú, chuyển đổi số đang thu ngắn một phần khoảng cách từng được đo bằng những giờ đi đường. Nhưng thước đo cuối cùng không phải là bao nhiêu nền tảng được xây dựng hay bao nhiêu tài khoản được kích hoạt. Đó phải là việc một người dân ở thôn xa có thể làm thủ tục nhanh hơn, ít phải đi lại hơn và tiếp cận dịch vụ công thuận tiện như người dân ở khu vực trung tâm.
Khi điều đó trở thành phổ biến, chuyển đổi số mới thật sự đi tới người dân vùng sâu, vùng xa.