Chuyển đổi xanh ở ĐBSCL: Nhiều lợi thế, lắm rào cản cần tháo gỡ
ĐBSCL có nền tảng tự nhiên để chuyển đổi xanh, nhưng vốn, hạ tầng và liên kết đang là những điểm nghẽn lớn.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa, thủy sản và trái cây lớn nhất Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi xanh. Với hơn 2,6 triệu ha đất nông nghiệp, đóng góp khoảng 31% GDP toàn ngành nông nghiệp và 50% sản lượng lúa cả nước, đây không chỉ là trụ đỡ kinh tế mà còn là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để phát triển bền vững, thích ứng với thiên nhiên và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế.

Thuận lợi: Nền tảng tự nhiên và động lực chính sách
ĐBSCL sở hữu những lợi thế độc đáo để thúc đẩy chuyển đổi xanh. Thứ nhất, vùng có tỉ lệ phủ xanh cao, ít nhà máy công nghiệp ô nhiễm và còn nhiều khu dự trữ sinh quyển quý giá như rừng ngập mặn Cà Mau, rừng tràm U Minh Hạ. Đây là nền tảng tự nhiên thuận lợi để phát triển các mô hình nông nghiệp sinh thái, hữu cơ và phát thải thấp. Thứ hai, tư duy “thuận thiên” theo Nghị quyết 120/NQ-CP đã trở thành kim chỉ nam cho toàn vùng, với các mô hình thích ứng linh hoạt như tôm - lúa tại Cà Mau (gần 90.000 ha), luân canh lúa, cây trồng cạn tại vùng đất Sóc Trăng, vừa giảm phát thải methane vừa nâng cao hiệu quả kinh tế.
Theo PGS. TS. Châu Minh Khôi, Phó hiệu trưởng Trường Nông nghiệp - Đại học Cần Thơ, mô hình luân canh lúa - củ dền tại Long Phú (Sóc Trăng) có thể giảm phát thải CH₄ từ 19-63%, đồng thời tăng lợi nhuận lên tới 163% so với canh tác lúa đơn thuần.
Thứ ba, các chính sách và đề án quốc gia đang tạo ra động lực mới. Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp” đến năm 2030 đang được triển khai mạnh mẽ. Riêng tại Cà Mau, kế hoạch thực hiện là 55.000 ha, với kết quả bước đầu giảm 20 - 40% giống gieo sạ, giảm khoảng 20% phân đạm, giảm 2 - 4 lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chi phí sản xuất giảm 2 - 3 triệu đồng/ha và lợi nhuận tăng 2 - 4 triệu đồng/ha. Ngoài ra, công nghệ cũng mở ra hướng đi mới với thiết bị cảm biến ẩm độ đất Chameleon (thích ứng), giúp tiết kiệm 43-58% lượng nước tưới cho cây trồng, góp phần quản lý tài nguyên nước hiệu quả và thích ứng với hạn mặn.

Rào cản: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi xanh đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt với hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển diễn biến phức tạp, đe dọa trực tiếp đến sản xuất và sinh kế của hàng triệu hộ dân. Trong khi đó, canh tác nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước, là nguồn phát thải khí nhà kính đáng kể. Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2010, canh tác lúa phát thải 44,61 triệu tấn CO₂ tương đương, chiếm 18% tổng lượng khí phát thải của Việt Nam. Đây là một nghịch lí khi vừa sản xuất lương thực vừa gia tăng phát thải.
PGS. TS. Châu Minh Khôi chỉ ra 7 điểm nghẽn chính cản trở chuyển đổi xanh: (1) vốn tín dụng xanh khó tiếp cận do thủ tục phức tạp và tài sản đảm bảo hạn chế; (2) đất đai manh mún, khó tích tụ để sản xuất quy mô lớn; (3) nguồn nhân lực thiếu kỹ năng công nghệ số và sản xuất xanh; (4) thị trường đầu ra cho sản phẩm xanh còn bấp bênh, thiếu ổn định; (5) hạ tầng hậu cần, logistics yếu kém, gây tổn thất sau thu hoạch lớn; (6) công nghệ xanh giá thành cao, phụ thuộc nhập khẩu; (7) cơ chế chính sách còn nhiều thủ tục hành chính phức tạp, thiếu sự phối hợp liên ngành.
Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp ĐBSCL vẫn mang tính nhỏ lẻ, thiếu liên kết vùng. Liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chưa bền vững; doanh nghiệp e ngại đầu tư do thiếu bản đồ phân vùng sản xuất và dữ liệu trữ lượng nguyên liệu minh bạch. Trong khi đó, áp lực từ các “rào cản xanh” của thị trường quốc tế như Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của EU, Quy định Chống phá rừng (EUDR) đòi hỏi sản phẩm phải có chứng nhận về phát thải và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Nếu không thay đổi, nông sản ĐBSCL có nguy cơ mất thị trường.

Giải pháp: Chuyển từ chiến lược đến hành động cụ thể
Để vượt qua rào cản và hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi xanh, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp. Về thể chế và chính sách, cần hoàn thiện cơ chế tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư xanh, thị trường carbon nội địa; huy động nguồn lực từ Quỹ Khí hậu xanh toàn cầu, ODA xanh và các quỹ tài chính carbon quốc tế. Ông Lê Thanh Tùng, Phó chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam khẳng định: “Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp cần gắn chặt với chuyển đổi số và thị trường tín chỉ carbon. Đây là cơ hội để vừa giảm phát thải, vừa tăng thu nhập cho nông dân”.
Về kĩ thuật và công nghệ, cần nhân rộng các mô hình nông nghiệp sinh thái như tôm - lúa, lúa - cá, nông nghiệp tái sinh, kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ và phụ phẩm nông nghiệp. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số: AI, IoT, cảm biến, hệ thống giám sát môi trường, bản đồ số tài nguyên nước và hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử. Xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải (MRV) minh bạch để tạo cơ sở cho giao dịch tín chỉ carbon.
Về thị trường và liên kết, phát triển chuỗi giá trị xanh dựa trên hệ sinh thái bản địa, kết nối doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân trong chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ. Đẩy mạnh chứng nhận VietGAP, hữu cơ, các tiêu chuẩn xanh quốc tế; phát triển tín chỉ carbon từ rừng ngập mặn, mô hình tôm - rừng, lúa phát thải thấp. PGS. TS. Ngô Thị Thanh Trúc, giảng viên, Phó trưởng bộ môn Kinh tế tài nguyên & Môi trường, Trường Kinh tế - Đại học Cần Thơ nhấn mạnh: “Phát triển chuỗi giá trị xanh là quá trình tái cơ cấu kinh tế vùng theo hướng thích ứng sinh thái, gia tăng giá trị tại chỗ và giảm tổn thất sau thu hoạch”.
Về nguồn nhân lực, cần đào tạo nghề xanh, nâng cao kỹ năng số cho nông dân, đào tạo cán bộ khuyến nông về thích ứng biến đổi khí hậu và sản xuất phát thải thấp.
Chuyển đổi xanh ở ĐBSCL là một hành trình dài hơi, đòi hỏi sự chung tay của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân. Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn về vốn, hạ tầng, công nghệ và liên kết, ĐBSCL không chỉ thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn có thể trở thành hình mẫu phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái và bền vững của cả khu vực châu Á. Đây không chỉ là cơ hội mà còn là trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với tương lai của vùng đất cực Nam Tổ quốc.