Nhịp đập công nghệ

Công nghệ Nhật Bản thúc đẩy Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao phát triển bền vững

Văn Kim Khanh 08/01/2026 22:00

Cuối năm 2025, có hai cuộc họp Việt – Nhật ở ĐBSCL. Trong đó, Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp cần công nghệ Nhật Bản hỗ trợ chuẩn hóa sản xuất, nâng cao giá trị hạt gạo Việt trên thị trường quốc tế được bàn bạc sâu rộng, và hai bên có kế hoạch hợp tác phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

che tao 2
Gặp gỡ Việt - Nhật ở ĐBSCL về chủ đề nông nghiệp - Ảnh: Văn Kim Khanh

Những kết quả ban đầu từ Đề án

Theo bà Nguyễn Thị Giang, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.Cần Thơ, thực tiễn triển khai tại địa phương cho thấy việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới đã giúp tăng năng suất, giảm chi phí sản xuất và cải thiện rõ rệt thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên, để mở rộng mô hình trên quy mô toàn vùng, Việt Nam cần sự hỗ trợ mạnh mẽ về công nghệ, tiêu chuẩn, cơ giới hóa và đo đếm phát thải. Trong đó, công nghệ Nhật Bản được xem là động lực quan trọng, giúp ĐBSCL xây dựng nền sản xuất lúa hiện đại, thân thiện môi trường và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.

Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp được ví như “Cuộc cách mạng nông nghiệp lần thứ ba” của Việt Nam, sau Cách mạng Xanh về giống và Khoán 10 về thể chế.

Trao đổi với Một Thế Giới, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp & Môi trường), cho biết cốt lõi của cuộc cách mạng lần này là tạo ra giá trị kinh tế – xã hội – môi trường cùng lúc.

“Cuộc Cách mạng Xanh lần thứ ba hướng tới tính bền vững. Không chỉ năng suất cao mà còn phải xanh hơn, ít phát thải hơn và mang lại giá trị cao hơn. Chúng ta đang kiến tạo một hệ sinh thái mới, gắn kết chặt chẽ giữa tổ chức nông dân (HTX), giảm phát thải, chuyển đổi số và thị trường carbon”, ông Thịnh nhấn mạnh.

CHE TAO 1
Chuyên gia Nhật khuyến cáo Việt Nam đẩy mạnh cơ khí hóa nông nghiệp - Ảnh: Văn Kim Khanh

Mục tiêu đến năm 2030 là hình thành vùng sản xuất lúa chất lượng cao quy mô lớn, có khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị xanh toàn cầu.

Sau gần hai năm triển khai, các mô hình thí điểm của Đề án đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Theo ông Lê Đức Thịnh, tại 11 điểm thí điểm với tổng diện tích 543,5 ha và 355 hộ nông dân tham gia, mô hình đã chứng minh rõ tính khả thi.

Về kinh tế, năng suất tăng trung bình 6–7 tấn/ha, trong khi chi phí sản xuất giảm từ 1,7 – 4,9 triệu đồng/ha. Giá thành sản xuất giảm 326 – 1.052 đồng/kg lúa, qua đó trực tiếp nâng cao thu nhập cho nông dân.

Về môi trường, kết quả đo đếm cho thấy phát thải khí nhà kính giảm 3,7 tấn CO₂. Đến nay, đã có 354.800 ha tại 6 tỉnh áp dụng Quy trình canh tác tốt (QTCT) bền vững, giảm phát thải.

Về tổ chức sản xuất, 400/620 hợp tác xã trong giai đoạn 1 đã tham gia Đề án, hình thành các chuỗi gạo xanh như Trung An, Tân Long, đồng thời ban hành Tem chứng nhận lúa gạo xanh nhằm nâng cao giá trị thương mại cho sản phẩm.

Những con số này cho thấy Đề án không chỉ giúp cải thiện hiệu quả sản xuất mà còn đặt nền móng cho một nền nông nghiệp xanh, bền vững và có khả năng hội nhập sâu vào thị trường quốc tế.

che tao 4
Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp & Môi trường)

Vì sao công nghệ Nhật Bản giữ vai trò then chốt?

Trong chiến lược phát triển Đề án một triệu ha, Nhật Bản được xác định là đối tác chiến lược quan trọng. Theo ông Lê Đức Thịnh, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản tập trung vào ba trụ cột chính.

Ở khâu sản xuất, Nhật Bản hỗ trợ công nghệ tưới tiêu thông minh, quản lý phân bón, cơ giới hóa đồng ruộng, xử lý rơm rạ và cải tạo sức khỏe đất. Các thiết bị cảm biến, máy móc chính xác giúp kiểm soát lượng nước, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo từng giai đoạn sinh trưởng, vừa nâng cao chất lượng lúa, vừa giảm tác động môi trường.

Ở khâu chế biến và logistics, công nghệ bảo quản và chế biến sâu giúp giảm thất thoát sau thu hoạch xuống mức mục tiêu 7–8%. Hệ thống kho lạnh, sấy, xay xát hiện đại góp phần giữ ổn định chất lượng hạt gạo, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường cao cấp.

Đặc biệt, trong chuyển đổi số, Nhật Bản hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý truy xuất nguồn gốc theo các tiêu chuẩn quốc tế như JGAP, GlobalGAP, đồng thời ứng dụng IoT, robot và dữ liệu lớn trong nông nghiệp. “Công nghệ chế biến gạo và logistics lạnh của Nhật Bản là yếu tố quyết định để mở rộng xuất khẩu sang các thị trường cao cấp”, ông Thịnh khẳng định.

Việt Nam đang học hỏi kinh nghiệm từ cơ chế tín chỉ J-Credit của Nhật Bản. Mục tiêu là đưa tín chỉ carbon từ 1 ha lúa áp dụng kỹ thuật ngập – khô xen kẽ (AWD), với mức giảm 1–1,5 tấn CO₂e/năm, ra thị trường quốc tế.

Nguồn thu từ tín chỉ carbon không chỉ tạo thêm lợi ích kinh tế cho nông dân mà còn khuyến khích họ duy trì các thực hành canh tác thân thiện môi trường. Đây là bước đi quan trọng để gắn sản xuất lúa với kinh tế carbon và phát triển xanh.

che tao 3
Ý kiến của chuyên gia Nhật tại các buổi hội thảo cuối năm 2025 - Ảnh: V.K.K

Ông Fukada Chihiro, Phó trưởng đại diện Văn phòng JICA tại Việt Nam, cho biết Nhật Bản sẽ hỗ trợ đào tạo cán bộ HTX, nông dân và cán bộ quản lý về kỹ năng kỹ thuật, quản trị số, quản lý chuỗi giá trị, cũng như các tiêu chuẩn SPS, JGAP/GAP. Mục tiêu là đảm bảo lực lượng sản xuất có đủ năng lực áp dụng hiệu quả các công nghệ và thực hành canh tác bền vững theo chuẩn quốc tế.

Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, việc mở rộng Đề án trên quy mô toàn vùng ĐBSCL vẫn đối mặt với không ít thách thức. Thời tiết bất thường, chi phí đầu tư công nghệ cao, năng lực số hóa của nông dân còn hạn chế và thiếu bộ tiêu chuẩn quốc gia thống nhất cho lúa giảm phát thải là những rào cản lớn.

Theo bà Nguyễn Thị Giang, để Đề án phát triển bền vững, cần tiếp tục đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ, cơ giới hóa, đào tạo nguồn nhân lực và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật. “Công nghệ Nhật Bản được xem là động lực quan trọng giúp ĐBSCL xây dựng nền sản xuất lúa hiện đại, thân thiện môi trường và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế”, bà Giang nhấn mạnh.

Việc mở rộng Đề án không chỉ nhằm tăng diện tích lúa chất lượng cao mà còn hướng tới xây dựng thương hiệu gạo Việt gắn với các giá trị xanh, sạch và bền vững.

Nổi bật
      Mới nhất
      Công nghệ Nhật Bản thúc đẩy Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao phát triển bền vững
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO