Kinh tế

Đại gia bánh kẹo, bất động sản đổ tiền vào giải trí: Miếng bánh tỉ USD có dễ ăn?

Mai Đình • 14/10/2026 10:15

Hàn Quốc đã tận dụng âm nhạc, phim ảnh và truyền hình để phát triển sức mạnh mềm, quảng bá ngôn ngữ, ẩm thực và sản phẩm tiêu dùng.

KIDO bắt tay Yeah1 lập liên doanh giải trí, Sun Group mở rộng đầu tư vào điện ảnh, DatVietVAC huy động vốn qua IPO…Một loạt thương vụ đổ tiền vào công nghiệp giải trí đang diễn ra mạnh mẽ.

Khi một chương trình có thể tạo doanh thu từ quảng cáo, bản quyền, concert đến hàng hóa, giải trí đang trở thành cuộc chơi mới của các tập đoàn lớn. Tuy nhiên, phía sau sức hút của thị trường là bài toán không dễ giải về chất lượng nội dung, hiệu quả đầu tư và khả năng chinh phục khán giả.

lang-giai-tri(1).jpg
KIDO bắt tay Yeah1 lập liên doanh giải trí

Từ chiếc bánh Trung thu đến phim ngắn AI

Sau nhiều năm gắn với thực phẩm và hàng tiêu dùng, KIDO đang bước vào một lĩnh vực có cách kiếm tiền rất khác: sản xuất và kinh doanh nội dung giải trí.

Cuối tháng 9/2026, tập đoàn công bố hệ sinh thái AIRO, hướng đến kết nối công nghệ, sản xuất nội dung, phân phối và thương mại hóa. Đầu tháng 10, AIRO tiếp tục bắt tay Yeah1 thành lập Công ty CP Giải trí và Thương mại A&M.

Theo ông Trần Lệ Nguyên, nhà sáng lập, Tổng giám đốc KIDO kiêm Chủ tịch HĐQT AIRO, mục tiêu của các bên không dừng ở việc mua bản quyền chương trình nước ngoài, mà là xây dựng một chuỗi hoạt động từ sản xuất nội dung đến khai thác thương mại, gắn giải trí với thương mại điện tử và bán lẻ.

Đây là điểm đáng chú ý trong bước đi của KIDO. Một chương trình truyền hình nếu chỉ dừng ở thời lượng phát sóng sẽ có giới hạn về nguồn thu. Nhưng khi được phát triển thành tài sản trí tuệ (IP), chương trình có thể mở rộng sang biểu diễn trực tiếp, quản lý nghệ sĩ, quảng cáo, bán hàng và phân phối nội dung trên nhiều nền tảng.

Liên doanh A&M dự kiến triển khai mô hình kết hợp sản xuất nội dung, quản lý tài năng và thương mại. Dự án đầu tiên được giới thiệu là “Xin chào thứ Bảy”, phiên bản Việt của chương trình giải trí “Hello Saturday” từ Trung Quốc.

Theo ông Trần Quốc Bảo, Chủ tịch HĐQT A&M, doanh nghiệp đặt mục tiêu IPO vào năm 2030. Đây là kế hoạch được công bố, còn khả năng hiện thực hóa sẽ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và quá trình phát triển doanh nghiệp trong những năm tới.

AIRO cũng dự kiến sản xuất khoảng 200 phim ngắn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong năm 2027, với chi phí bình quân 10.000-20.000 USD mỗi phim. Ông Nguyên ước tính mảng này có thể mang về khoảng 25 tỉ đồng doanh thu mỗi tháng. Tuy nhiên, đây mới là mục tiêu dự kiến, chưa phải doanh thu đã được kiểm chứng.

Với KIDO, lợi thế có thể nằm ở kinh nghiệm quản trị, hệ thống phân phối và khả năng kết nối nội dung với các thương hiệu tiêu dùng. Nhưng kinh nghiệm kinh doanh thực phẩm không đồng nghĩa với việc có thể dễ dàng tạo ra một bộ phim hay hay chương trình đủ sức giữ chân khán giả.

ong-tran-le-quen.jpg
Ông Trần Lệ Nguyên, nhà sáng lập, Tổng giám đốc KIDO kiêm Chủ tịch HĐQT AIRO. Ảnh FB của nhân vật

Ông Nguyên từng chia sẻ: “Không doanh nghiệp nào toàn diện, cũng như không có CEO nào biết hết mọi lĩnh vực từ kế toán đến marketing. Điều quan trọng nhất là tinh thần hợp tác”. Câu chuyện AIRO cho thấy doanh nghiệp hiểu rằng muốn bước vào ngành mới, họ cần kết hợp nguồn lực tài chính với năng lực sáng tạo và kinh nghiệm sản xuất của những đối tác chuyên môn.

Trong khi đó, Sun Group cũng mở rộng hoạt động sang điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn. Tập đoàn bổ nhiệm đạo diễn Đỗ Thanh Hải, cựu Phó tổng giám đốc thường trực VTV, làm Phó tổng giám đốc, kiêm Tổng giám đốc khối Điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn từ ngày 5/10. Doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư phim trường quy mô 279 ha tại Ninh Bình.

Đặt trong hệ sinh thái du lịch, nghỉ dưỡng và phát triển điểm đến của Sun Group, điện ảnh có thể trở thành một mắt xích bổ trợ cho hoạt động kinh doanh hiện hữu. Phim trường có thể phục vụ sản xuất, thu hút đoàn làm phim, tạo việc làm và mở thêm sản phẩm du lịch. Ngược lại, những điểm đến, cơ sở lưu trú và hạ tầng sẵn có cũng có thể hỗ trợ hoạt động tổ chức sự kiện, biểu diễn.

Tuy vậy, hiệu quả của mô hình này vẫn cần được chứng minh bằng khả năng thu hút dự án, lượng khách, doanh thu và mức độ khai thác thực tế của hạ tầng đầu tư.

Một chương trình, nhiều vòng doanh thu

Lý do khiến các doanh nghiệp quan tâm đến giải trí nằm ở khả năng khai thác nhiều nguồn thu từ cùng một sản phẩm nội dung.

Những năm gần đây, “Anh trai vượt ngàn chông gai”, “Anh trai say hi” hay “Chị đẹp đạp gió rẽ sóng” cho thấy chương trình truyền hình có thể tạo ra cộng đồng người hâm mộ, kéo theo nhu cầu mua vé biểu diễn và các sản phẩm gắn với nghệ sĩ.

Theo số liệu được công bố, năm 2024, Yeah1 ghi nhận doanh thu gần 1.007 tỉ đồng, gấp 2,4 lần năm trước; lợi nhuận sau thuế gần 127 tỉ đồng. Riêng quý IV/2024, thời điểm diễn ra hai concert “Anh trai vượt ngàn chông gai”, doanh nghiệp thu gần 378 tỉ đồng và lãi hơn 71 tỉ đồng.

DatVietVAC cũng ghi nhận doanh thu 3.235 tỉ đồng, lợi nhuận sau thuế 380 tỉ đồng trong năm 2025. Theo số liệu doanh nghiệp được công bố, “vũ trụ Say Hi” mang về hơn 1.000 tỉ đồng, trong đó chương trình “Anh trai say hi” đóng góp khoảng 480 tỉ đồng.

Những con số này cho thấy sức hút của nội dung có thể được chuyển thành doanh thu trên nhiều kênh. Một chương trình thành công giúp doanh nghiệp bán quảng cáo, khai thác bản quyền, tổ chức concert, phát triển sản phẩm lưu niệm và mở rộng hoạt động thương mại với nghệ sĩ. Cộng đồng người hâm mộ càng gắn bó, cơ hội phát triển các sản phẩm và dịch vụ đi kèm càng lớn.

Tất nhiên, không phải mọi chương trình đều đạt kết quả như vậy. Thành công của một vài sản phẩm nổi bật không có nghĩa toàn ngành giải trí đều dễ sinh lời. Sức hút của khán giả thường tập trung vào một số chương trình, nghệ sĩ hoặc thời điểm nhất định. Doanh nghiệp phải liên tục đầu tư để tạo ra sản phẩm mới, trong khi doanh thu của mỗi chương trình có thể biến động đáng kể.

Việc DatVietVAC hoàn tất đợt IPO với 11,15 triệu cổ phiếu được phân phối, thu về hơn 611 tỉ đồng, cũng cho thấy thị trường vốn bắt đầu chú ý rõ hơn đến doanh nghiệp nội dung. Theo phương án công bố, mức giá chào bán 54.800 đồng/cổ phiếu tương ứng vốn hóa dự kiến sau phát hành khoảng 6.106 tỉ đồng.

IPO mở thêm kênh huy động vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, mở rộng thị trường và phát triển tài sản trí tuệ. Đổi lại, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu cao hơn về minh bạch, quản trị và hiệu quả sử dụng vốn. Khi đã huy động tiền từ công chúng, những lời hứa về tăng trưởng cần được chuyển thành kết quả kinh doanh thực tế.

Giải trí có thể kéo cả nền kinh tế cùng chuyển động

Miếng bánh giải trí hấp dẫn các tập đoàn lớn bởi giá trị của nó có thể vượt khỏi phạm vi nhà sản xuất và nghệ sĩ.

Một concert quy mô lớn cần địa điểm biểu diễn, hệ thống âm thanh, ánh sáng, nhân lực tổ chức, vận chuyển và lưu trú. Khán giả từ địa phương khác đến xem có thể chi tiền cho khách sạn, nhà hàng, mua sắm và tham quan. Nếu chương trình thu hút được khách quốc tế, hiệu ứng lan tỏa còn mở rộng sang hàng không, du lịch và quảng bá hình ảnh đất nước.

Vì vậy, giải trí có thể trở thành một công cụ kích thích tiêu dùng và tạo thêm việc làm cho nhiều ngành nghề. Một sự kiện được tổ chức tốt cũng có thể giúp địa phương xây dựng hình ảnh, kéo dài thời gian lưu trú của du khách và tăng mức chi tiêu tại điểm đến.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sức ảnh hưởng của sản phẩm văn hóa có thể rất lớn. Hàn Quốc đã tận dụng âm nhạc, phim ảnh và truyền hình để phát triển sức mạnh mềm, quảng bá ngôn ngữ, ẩm thực và sản phẩm tiêu dùng.

Tuy nhiên, thành công ấy được xây dựng qua quá trình đầu tư dài hạn vào đào tạo nghệ sĩ, sản xuất nội dung, công nghệ, phân phối và thị trường quốc tế, chứ không chỉ nhờ một vài chương trình ăn khách.

Việt Nam cũng đang có thêm cơ hội. Lực lượng khán giả trẻ, sự phổ biến của nền tảng số và nhu cầu trải nghiệm trực tiếp tạo dư địa cho âm nhạc, điện ảnh và các chương trình giải trí.

Việc Yeah1 hợp tác với Sony Music, phát triển nhóm nhạc UPRIZE, hay kế hoạch đưa chương trình biểu diễn có nghệ sĩ Việt đến thị trường Mỹ cho thấy một số doanh nghiệp đã tính đến thị trường ngoài nước...

Ở trong nước, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa cũng tạo thêm động lực cho khu vực tư nhân. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu nâng mức đóng góp của lĩnh vực này lên 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Những mục tiêu đó cho thấy văn hóa ngày càng được nhìn nhận như một lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, việc làm và sức cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, để biến định hướng thành kết quả, cần có môi trường pháp lý phù hợp, cơ chế bảo vệ quyền tác giả, nguồn nhân lực chuyên môn và khả năng tiếp cận vốn. Những tài sản như kịch bản, âm nhạc, hình ảnh nghệ sĩ hay định dạng chương trình chỉ có thể tạo giá trị bền vững khi quyền sở hữu và khai thác được xác lập rõ ràng.

Không phải cứ có tiền là làm được giải trí

Điểm khác biệt của ngành giải trí nằm ở chỗ sản phẩm không thể được quyết định hoàn toàn bằng vốn đầu tư hay công nghệ. Một chương trình có thể được quảng bá rầm rộ, sân khấu được đầu tư hoành tráng, nghệ sĩ nổi tiếng tham gia, nhưng cuối cùng vẫn phụ thuộc vào việc khán giả có muốn xem, muốn mua vé và tiếp tục theo dõi hay không.

Với phim ngắn ứng dụng AI, công nghệ có thể rút ngắn một số công đoạn và hỗ trợ giảm chi phí. Nhưng như chính ông Trần Lệ Nguyên thừa nhận trong chia sẻ về kế hoạch của AIRO, AI không thể tự tạo ra câu chuyện đủ sức giữ chân người xem. Khi nguồn cung nội dung tăng nhanh, sự khác biệt về kịch bản, cảm xúc và bản sắc càng có ý nghĩa quyết định.

Với các tập đoàn đa ngành, thách thức còn nằm ở việc dung hòa mục tiêu thương mại với đặc thù sáng tạo. Một thương hiệu hàng tiêu dùng có thể được quảng bá bằng cách đưa sản phẩm vào chương trình, nhưng nếu nội dung quá nặng tính quảng cáo, khán giả có thể mất hứng thú.

Ngược lại, nếu chỉ chạy theo lượt xem và hiệu ứng ngắn hạn, doanh nghiệp khó xây dựng được tài sản trí tuệ có giá trị lâu dài.

Bởi vậy, thước đo thành công không nên chỉ là số lượng phim, chương trình hay concert được sản xuất, cũng không chỉ là mức vốn huy động. Điều quan trọng hơn là doanh nghiệp có tạo ra nội dung được khán giả đón nhận, khai thác bản quyền hiệu quả, bảo đảm quyền lợi nghệ sĩ và duy trì được nguồn thu qua nhiều năm hay không.

Làn sóng các tập đoàn đổ tiền vào giải trí mở ra cơ hội để Việt Nam hình thành những doanh nghiệp văn hóa có quy mô, chuyên nghiệp và đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Nhưng thị trường sẽ không tự nhiên trở thành “mỏ vàng” chỉ vì có nhiều vốn tham gia. Tiền có thể giúp dựng sân khấu, xây phim trường và mua công nghệ; còn để khán giả ở lại, doanh nghiệp vẫn phải bắt đầu từ những câu chuyện hay, sản phẩm tốt và sự tôn trọng người xem.

Nổi bật
      Mới nhất
      Đại gia bánh kẹo, bất động sản đổ tiền vào giải trí: Miếng bánh tỉ USD có dễ ăn?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO