Nhịp đập công nghệ

ĐBSCL: Số hóa di sản văn hóa không dễ dàng

Văn Kim Khanh 01/01/2026 14:09

Số hóa di sản văn hóa ,mở ra hướng phát triển mới cho du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Việc phải làm, nhưng không dễ dàng..

TS NGUYEN VAN QUANG
TS Nguyễn Văn Quang, Hiệu trưởng ĐH Nam Cần Thơ. Ảnh: V.K.K

Số hóa di sản văn hóa ĐBSCL

Gần đây, ở ĐBSCL có nhiều hội thảo khoa học về phát triển du lịch gắn với số hóa di sản văn hóa. Trong bối cảnh du lịch đang phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch. Đồng thời, đứng trước những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống.

TS Nguyễn Văn Quang, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ (DNC) cho rằng: Du lịch không chỉ là ngành kinh tế tổng hợp có khả năng lan tỏa lớn, mà còn là cầu nối quan trọng trong quảng bá hình ảnh, bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển du lịch nhanh trong thời gian qua, cũng bộc lộ nhiều hệ lụy, đáng lo ngại - nhất là nguy cơ xâm hại di sản văn hóa, thương mại hóa quá mức các giá trị truyền thống và làm mai một vai trò của cộng đồng địa phương (chủ thể sáng tạo và gìn giữ di sản).

Đối với khu vực ĐBSCL, đây là vùng đất sở hữu hệ thống di sản văn hóa phong phú, phản ánh sinh động sự giao thoa của nhiều cộng đồng dân tộc: Việt, Hoa, Khmer, Chăm. Và, quá trình thích ứng lâu dài với điều kiện tự nhiên sông nước. Từ kiến trúc, lễ hội, nghệ thuật dân gian đến tập quán sinh hoạt, ẩm thực, tất cả đều có tiềm năng số hóa để trở thành những sản phẩm du lịch đặc thù. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ là khai thác “cái có”, mà là làm sao để phát triển du lịch mà vẫn giữ được tính nguyên bản của di sản, đồng thời bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cư dân địa phương.

chợ nổi new
Chợ nổi Cái Răng trước kia - Ảnh: V.K.K

Theo các chuyên gia, cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là lực lượng trực tiếp sáng tạo, truyền dạy và bảo vệ di sản. Nếu cộng đồng bị đứng ngoài, hoặc chỉ tham gia mang tính hình thức, di sản rất dễ bị “đóng khung”; hoặc trở thành sản phẩm trình diễn thiếu sức sống. Vì vậy, các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng cần được khuyến khích, đi kèm cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, đào tạo kỹ năng và nâng cao nhận thức cho người dân về giá trị lâu dài của di sản văn hóa đã được số hóa.

Song song với yếu tố con người, ứng dụng công nghệ số được xem là hướng tiếp cận không thể đảo ngược trong bảo tồn và quảng bá di sản. Các giải pháp như số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giới thiệu điểm đến. Hay kết hợp trải nghiệm thực tế ảo với du lịch văn hóa được đánh giá là xu hướng tất yếu. Công nghệ số không chỉ giúp mở rộng khả năng tiếp cận của du khách, đặc biệt là thế hệ trẻ, mà còn góp phần giảm áp lực trực tiếp lên các di sản vật thể vốn dễ bị tổn thương trước tác động của du lịch đại chúng.

Những cung đàn lỗi nhịp

Từ thực tiễn địa phương, nhiều ý kiến cho rằng: Chợ nổi Cần Thơ là một di sản văn hóa quý giá của TP. Cần Thơ và toàn vùng ĐBSCL, nhưng hiện nay đang dần mai một. Nguyên nhân không chỉ đến từ việc chợ nổi không còn giữ vai trò lịch sử trong hoạt động buôn bán trên sông, khi giao thông đường bộ và logistics hiện đại phát triển; còn từ những tác động của quá trình đô thị hóa. Bờ kè dọc theo chợ nổi Cái Răng vô tình trở thành “bức tường bức tử” chợ nổi, làm mất đi cảnh “trên bến dưới thuyền” – hình ảnh biểu trưng của văn hóa sông nước. Du khách muốn lên bờ đôi khi phải bắc thang, gây bất tiện và làm giảm sức hấp dẫn của trải nghiệm. Nhiều đại biểu từ các hội thảo du lịch đặt câu hỏi: Vì sao Thái Lan có thể làm chợ nổi nhân tạo thành công, còn Cần Thơ vẫn lúng túng trong việc tìm lời giải để chợ nổi “sống lại”?

CN 1 NEW
Chợ nổi Cái Răng sau khi 'bê tông hóa' - Ảnh: V.K.K

Ở góc nhìn vùng, TS Trần Hữu Hiệp, Phó chủ tịch Hiệp hội Du lịch ĐBSCL cho rằng: "Du lịch cần biết kể câu chuyện di sản văn hóa đồng bằng”. Theo ông, ĐBSCL không nổi bật bởi các di tích có chiều dài lịch sử lâu đời, nhưng lại sở hữu hệ sinh thái di sản văn hóa phi vật thể rất đặc sắc như : văn hóa miệt vườn, sông nước, chợ nổi, đờn ca tài tử, lễ hội dân gian, cùng sự giao hòa độc đáo của văn hóa Kinh, Hoa, Khmer, Chăm. Điểm mạnh của vùng là các di sản này không nằm yên trong bảo tàng, mà đang hiện diện sống động, gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng và được nuôi dưỡng mỗi ngày.

Tuy nhiên, TS Trần Hữu Hiệp cũng thẳng thắn đặt ra những câu hỏi phản biện: Du lịch đang làm cho di sản “sống động hơn” hay đang khiến di sản “mệt mỏi hơn”? Du lịch giúp bảo tồn hay đang làm phai nhạt các giá trị văn hóa? Thực tế cho thấy một số giá trị văn hóa đang bị thương mại hóa nhanh, nhiều sản phẩm du lịch văn hóa giữa các địa phương còn trùng lặp, trong khi cộng đồng dù tham gia nhưng chưa thực sự là chủ thể, lợi ích nhận được còn hạn chế. Điều đó cho thấy chất lượng phát triển du lịch không nằm ở số lượng du khách hay doanh thu, mà ở chất lượng tương tác giữa du khách với di sản và cộng đồng.

dl3.jpg
TS Trần Hữu Hiệp - Ảnh: V.K.K

Đề xuất những giải pháp

Theo TS Trần Hữu Hiệp, hiện nay đang tồn tại ba điểm nghẽn lớn. Thứ nhất, ngành du lịch còn thiếu những câu chuyện di sản hấp dẫn, đặc biệt đối với du khách quốc tế. Thứ hai, cộng đồng – hồn cốt của di sản – chưa được đặt đúng vị trí trung tâm, thậm chí có nơi xem di sản là “gánh nặng” cần gìn giữ cho có. Thứ ba là sự thiếu liên kết vùng trong khai thác di sản, khi di sản không theo ranh giới hành chính nhưng sản phẩm du lịch lại bị chia cắt theo địa phương.

Từ thực tiễn đó, ông đề xuất bốn gợi mở quan trọng: chuyển từ du lịch “xem di sản” sang “trải nghiệm di sản sống”; đặt cộng đồng địa phương vào vai trò người kể chuyện và người hưởng lợi; tăng cường sự đồng hành của các trường đại học, nhà khoa học với địa phương; và tiếp cận di sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở ĐBSCL, nơi bảo tồn văn hóa cũng chính là bảo vệ sinh kế.

Ở góc độ học thuật, PGS. TS Đào Ngọc Cảnh cho rằng số hóa di sản văn hóa phục vụ du lịch là việc phải làm trong tương lai và vô cùng cấp thiết, nhưng không hề dễ. Việc này đòi hỏi đầu tư đồng bộ về kinh phí, con người và kỹ thuật, trong đó “vốn sống văn hóa” và năng lực công nghệ là hai yếu tố cốt lõi. Làm thế nào để di sản “sống lại” trong trải nghiệm của du khách, để hồn cốt và câu chuyện văn hóa có thể lưu lại lâu dài trong lòng người xem, là bài toán lớn đối với những người làm du lịch văn hóa di sản.

Nổi bật
      Mới nhất
      ĐBSCL: Số hóa di sản văn hóa không dễ dàng
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO