ĐBSCL trước bài toán giảm phát thải khí nhà kính
Các nhà khoa học cảnh báo: Nếu không chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp ngay từ bây giờ, ĐBSCL sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu kép, cả về môi trường lẫn kinh tế.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam với khoảng 2,4 - 2,6 triệu ha đất canh tác, đóng góp 50% sản lượng lúa, gần 90% lượng gạo xuất khẩu và 70% sản lượng trái cây cả nước.
Nhưng chính nền thâm canh nhiều thập kỷ đang trở thành nguồn phát thải khí nhà kính (KNK) đáng kể, đặt ra bài toán cấp bách mà giới khoa học và hoạch định chính sách không thể trì hoãn.

Nông nghiệp thâm canh, gánh nặng phát thải khổng lồ
Theo số liệu từ Cục Trồng trọt & Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp & Môi trường) năm 2025, tổng phát thải KNK từ sản xuất nông nghiệp Việt Nam đạt khoảng 104,5 triệu tấn CO₂ tương đương, trong đó canh tác lúa nước chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,9 triệu tấn (40%), tiếp theo là đất nông nghiệp 29,3 triệu tấn (28%) và tiêu hóa thức ăn chăn nuôi 18,8 triệu tấn (18%).
Thạc sĩ Phạm Văn Toàn, thuộc Nhóm Nghiên cứu Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, chỉ rõ: "Nguyên nhân cốt lõi nằm ở thói quen canh tác chưa bền vững, ruộng lúa ngập nước liên tục, vùi rơm rạ không qua xử lý sinh ra khí CH₄, lạm dụng phân đạm vô cơ tạo N₂O, đốt đồng và sử dụng năng lượng kém hiệu quả trong cơ giới hóa. Riêng ruộng lúa ngập nước cùng rơm rạ chưa xử lý đã đóng góp tới 56,9% lượng CH₄ phát sinh trong canh tác lúa".
Ông cũng lưu ý rằng tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong nước mặt, đất và trầm tích tại nhiều địa phương đang ở mức đáng lo ngại, phản ánh tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật lên đến 6,27 kg/ha và phân bón tới 1.071 kg/ha, những con số vượt xa ngưỡng hợp lý.

Nghịch lý "bước nhảy vọt hay sự tụt hậu"
PGS.TS. Trương Hoàng Đan - Trưởng Bộ môn Quản lý Môi trường, Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, Đại học Cần Thơ - đặt vấn đề về một nghịch lý nổi bật tại Việt Nam: "Chúng ta là quốc gia tiên phong về năng lượng tái tạo với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, nhưng đang vướng mắc giữa quy mô cơ sở hạ tầng vật chất và sự trì trệ của khung pháp lý. Điện mặt trời tăng từ dưới 100 MW lên hơn 18 GW chỉ trong giai đoạn 2015–2021, thế nhưng lưới điện truyền thống chưa đáp ứng, thiếu hệ thống lưu trữ và hợp đồng mua bán điện thiếu linh hoạt đang bóp nghẹt chính tiềm năng đó".
Bà nhấn mạnh thêm: "ĐBSCL không thể áp dụng mô hình phát triển trước, phục hồi sau như các nước công nghiệp hóa trước đây đã làm. Khi đồng bằng đang đối mặt với xâm nhập mặn, sụt lún và nước biển dâng, áp lực sinh tồn buộc chúng ta phải đi tắt đón đầu, tích hợp công nghệ sạch hiện đại ngay từ bây giờ để không phải trải qua giai đoạn tích lũy carbon tối đa".

4 giải pháp kỹ thuật được khuyến nghị
TS. Lê Trần Thanh Liêm, Trưởng phòng thí nghiệm Quan trắc Môi trường và Khí hậu, Đại học Cần Thơ, trình bày 4 nhóm giải pháp có tính hệ thống.
Về mặt kỹ thuật canh tác, ông nhấn mạnh hiệu quả của kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD) kết hợp gieo hạt trực tiếp bằng máy: "Dữ liệu thực nghiệm cho thấy hai biện pháp này kết hợp có thể cắt giảm từ 11,7% đến 22,5% lượng phát thải KNK trên mỗi ha. Nông nghiệp sinh thái không phải là sự hy sinh năng suất, đây là động cơ tối ưu hóa tài nguyên tuần hoàn". Ngoài ra, thay thế 25-50% phân đạm tổng hợp bằng phân bón hữu cơ, dựa trên dữ liệu đánh giá vòng đời, cũng mang lại hiệu quả rõ rệt.
Nhóm giải pháp thứ hai tập trung vào nông nghiệp tuần hoàn: sản xuất biochar và phân compost từ rơm rạ, bã mía; nhân rộng mô hình lúa–cá, lúa–tôm và nông lâm kết hợp để tăng hấp thụ CO₂ và nâng cao trữ lượng carbon trong đất.
Thứ ba là công nghệ và cơ giới hóa thông minh: ứng dụng drone phun thuốc, cảm biến quản lý nước, hệ thống biogas xử lý chất thải chăn nuôi thu hồi năng lượng, cùng nền tảng nông nghiệp số tích hợp AI và IoT.
Nhóm thứ tư là tổ chức sản xuất và chính sách: xây dựng hệ thống MRV (đo lường–báo cáo–thẩm định) để tạo tín chỉ carbon nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất theo chuẩn VietGAP, GlobalGAP hướng tới xuất khẩu bền vững, và hỗ trợ tài chính cho nông dân chuyển đổi sinh kế.
Nút thắt thể chế và tài chính chưa được tháo gỡ
Giới nghiên cứu đồng thuận rằng rào cản lớn nhất hiện nay không phải công nghệ mà là thể chế và vốn. PGS.TS. Trương Hoàng Đan cảnh báo: "Khoảng cách giữa gói cam kết ban đầu của JETP là 15,5 tỉ USD và nhu cầu vốn thực tế chỉ riêng cho ngành năng lượng đến năm 2030 là 86 tỉ USD nói lên tất cả. Thiếu hệ thống phân loại dự án xanh chuẩn hóa (Green Taxonomy) khiến khối tư nhân e ngại rủi ro, gây ách tắc dòng vốn. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp áp dụng ESG và báo cáo xanh vẫn còn mang tính hình thức, thiếu tính răn đe".
TS. Lê Trần Thanh Liêm bổ sung: "Bài toán phân cấp–phân quyền cũng là thách thức nghiêm trọng. Khi địa phương ưu tiên tăng trưởng GDP trước mắt, các quy chuẩn bảo vệ môi trường dài hạn của quốc gia dễ bị xem nhẹ trong thực thi. Đây là mâu thuẫn cần được giải quyết bằng cơ chế ràng buộc pháp lý rõ ràng hơn, chứ không chỉ bằng kêu gọi tự nguyện".

Lộ trình hành động cấp thiết
Để đạt mục tiêu NDC (Kế hoạch Quốc gia về giảm phát thải) - giảm 9% tổng lượng phát thải KNK so với kịch bản thông thường bằng nỗ lực quốc gia, tăng lên 27% nếu có hỗ trợ quốc tế, các nhà khoa học Đại học Cần Thơ đề xuất lộ trình 4 bước ưu tiên: Vận hành thị trường carbon dựa trên đấu giá hạn ngạch; hiện đại hóa lưới điện và thực thi Luật Điện lực sửa đổi; nâng cao năng lực quản lý và quản trị cấp địa phương; nhân rộng nông nghiệp sinh thái phát thải thấp, tích hợp các giải pháp cắt giảm methane vào chiến lược khuyến nông quốc gia.
PGS.TS. Trương Hoàng Đan kết luận: "Sự phát triển xanh không chỉ là mục tiêu môi trường, đó còn là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế quốc gia trong thế kỷ XXI. ĐBSCL với lợi thế hấp thụ công nghệ nhanh và tiềm năng nông nghiệp sinh thái khổng lồ hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu chuyển dịch xanh của khu vực, nếu chúng ta hành động đủ nhanh và đủ quyết liệt ngay từ bây giờ".


