Bạn đọc

Đến trường nơi non cao: Hành trình học chữ vẫn nhiều gập ghềnh

Nguyễn Tuyết 19/04/2026 19:33

Hành trình đến trường của học sinh vùng cao, vùng biên hôm nay vẫn còn nhiều trở ngại cần được nhìn thẳng và tháo gỡ.

Ở nhiều bản làng vùng cao, vùng biên, ngày mới bắt đầu khi mặt trời còn chưa ló rạng. Trong màn sương đặc quánh phủ kín sườn núi, từng tốp học sinh khoác cặp ra khỏi nhà, lặng lẽ men theo lối mòn, băng qua suối, vượt dốc để đến lớp.

Có em đi bộ vài cây số, có em phải đi xa hơn thế. Với các em nhỏ, quãng đường ấy không chỉ là khoảng cách địa lý, mà là một phép thử hằng ngày về sức bền, ý chí và khát vọng được học hành.

benz8249.jpg
Học sinh Trường phổ thông dân tộc nội trú THPT Nà Hỳ (Điện Biên) đến trường - Ảnh: Nguyễn Tuyết

Những năm gần đây, diện mạo giáo dục ở nhiều địa bàn khó khăn đã có chuyển biến. Nhiều điểm trường được xây dựng kiên cố hơn, thêm phòng học, thêm nhà bán trú, thêm chính sách hỗ trợ học sinh nghèo, học sinh dân tộc thiểu số.

Nhưng nếu nhìn vào thực tế đời sống học đường ở vùng cao, vùng biên hiện nay, có thể thấy con đường đến trường của không ít học sinh vẫn còn nhiều đoạn gập ghềnh. Đó không chỉ là những dốc núi, con suối hay cây cầu tạm, mà còn là cái nghèo, những thiếu thốn sinh hoạt, rào cản ngôn ngữ, áp lực mưu sinh và cả nguy cơ tụt lại phía sau trong tiếp cận giáo dục hiện đại.

Đường đến lớp vẫn nhọc nhằn

Trở ngại dễ nhận thấy nhất vẫn là địa hình cách trở. Ở nhiều nơi, từ nhà đến trường là hành trình đi qua những lối đất hẹp, trơn trượt, mùa nắng thì bụi mù, mùa mưa thì nhão nhoét bùn đất. Có đoạn phải lội suối, có đoạn phải bước qua những cây cầu nhỏ ọp ẹp, chỉ cần mưa lớn qua đêm là nước dâng, đường bị chia cắt.

Với người lớn, đó đã là quãng đường đáng ngại. Với học sinh tiểu học, thậm chí cả học sinh mầm non theo cha mẹ đưa đón, mỗi ngày đến lớp vẫn như một cuộc vượt dốc thật sự.

Ở vùng núi cao, thời tiết khắc nghiệt càng khiến việc học trở nên mong manh hơn. Mùa đông, sương dày và rét buốt khiến quần áo khó khô, đôi chân tím tái trên đường đến trường.
Mùa mưa, áo ướt, dép lấm bùn, sách vở phải bọc trong túi ni lông để tránh nước. Không ít nơi, chuyện học sinh nghỉ học vài buổi vì mưa lũ, sạt lở hoặc rét đậm không còn là điều hiếm gặp.

Điều đó cho thấy ở những địa bàn đặc biệt khó khăn, việc bảo đảm cho học sinh đi học đều đặn vẫn là một bài toán chưa dễ giải.

img_6697.jpg
Nếu không có nền tảng tiếng Việt đủ tốt, việc nghe giảng, đọc hiểu, diễn đạt ý kiến hay làm bài tập đều trở nên khó khăn hơn với các học sinh - Ảnh: Nguyễn Tuyết

Nhưng trở ngại không chỉ nằm trên con đường từ nhà đến lớp. Nhiều em còn mang theo những thiếu thốn của đời sống hằng ngày vào trong lớp học. Có em đến trường khi bụng còn đói, bữa sáng chỉ là nắm cơm nguội, củ sắn luộc hoặc gói mì ăn vội. Có em ở bán trú, nội trú trong điều kiện sinh hoạt còn chật chội, thiếu nước sạch, thiếu chăn ấm, thiếu góc học tập yên tĩnh. Trường học ở những nơi ấy không chỉ là nơi truyền dạy kiến thức, mà nhiều khi còn phải gánh thêm vai trò của một mái nhà, nơi lo cho học sinh từ bữa ăn, giấc ngủ đến nề nếp sinh hoạt.

Cái nghèo vì thế vẫn là lực cản dai dẳng. Dù nhiều khoản học phí đã được miễn giảm, việc đi học vẫn phát sinh hàng loạt chi phí khác như quần áo, giày dép, đồ dùng học tập, tiền đi lại, tiền ăn thêm. Với những gia đình sống bằng nương rẫy, làm thuê theo mùa vụ hoặc chăn nuôi nhỏ lẻ, chừng ấy cũng là một gánh nặng không nhỏ. Khi cuộc sống trước mắt còn quá chật vật, việc cho con đến trường đủ ngày, đủ buổi đôi khi phải nhường chỗ cho những việc được xem là cấp thiết hơn như phụ giúp việc nhà, trông em, đi nương hoặc lao động sớm.

Chính từ đây, câu chuyện duy trì sĩ số trở nên gian nan. Sau kỳ nghỉ dài, sau mùa thu hoạch hoặc khi gia đình gặp biến cố, một số em rất dễ nghỉ học kéo dài. Có em trở lại lớp sau vài ngày, nhưng cũng có em từ từ rời khỏi trường học. Ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông, nguy cơ bỏ học còn lớn hơn khi các em đã đủ sức lao động, có thể kiếm tiền phụ giúp gia đình hoặc chịu tác động từ hôn nhân sớm, tập quán cũ ở một số địa bàn. Đó là những rào cản âm thầm, không ồn ào nhưng đủ mạnh để bào mòn cơ hội học tập của trẻ em vùng cao, vùng biên.

Không chỉ là chuyện đi học, mà là bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng

Bên cạnh khó khăn vật chất, học sinh vùng cao, vùng biên còn đối mặt với những rào cản ít nhìn thấy hơn. Một trong số đó là ngôn ngữ. Với nhiều học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt không phải tiếng mẹ đẻ. Khi bước vào lớp, các em phải tiếp nhận tri thức bằng một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ giao tiếp thường ngày trong gia đình, bản làng. Nếu không có nền tảng tiếng Việt đủ tốt, việc nghe giảng, đọc hiểu, diễn đạt ý kiến hay làm bài tập đều trở nên khó khăn hơn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn tác động đến tâm lý, sự tự tin và khả năng hòa nhập của học sinh trong môi trường lớp học.

Khoảng cách số cũng đang tạo ra thêm một lớp trở ngại mới. Trong khi học sinh ở đô thị ngày càng quen với internet, thiết bị thông minh, kho học liệu điện tử và các kỹ năng tra cứu, tự học trực tuyến, thì nhiều em ở vùng cao, vùng biên vẫn chưa có điều kiện tiếp cận tương xứng. Có nơi điện chưa ổn định, sóng điện thoại chập chờn, chưa nói đến máy tính hay máy tính bảng phục vụ học tập. Trong bối cảnh giáo dục ngày càng đòi hỏi năng lực số, sự chênh lệch này nếu không được thu hẹp sẽ tiếp tục kéo giãn khoảng cách cơ hội giữa miền núi và miền xuôi.

Một yếu tố quan trọng khác là điều kiện dạy học. Nhiều giáo viên ở vùng khó vẫn phải kiêm nhiệm nhiều việc, bám lớp bám bản trong điều kiện xa nhà, đời sống còn thiếu thốn. Có nơi thiếu giáo viên ở một số môn, có nơi việc đi lại của thầy cô cũng gian nan chẳng kém học sinh. Khi nguồn lực giáo dục còn mỏng, học sinh vùng cao, vùng biên không chỉ đối mặt với khó khăn trong việc đến trường mà còn có nguy cơ thiệt thòi ngay trong quá trình học tập nếu không được tiếp cận đầy đủ với đội ngũ, học liệu và môi trường giáo dục phù hợp.

Tuy nhiên, nói về giáo dục vùng cao, vùng biên sẽ là chưa đủ nếu chỉ dừng ở khó khăn. Bởi phía sau những con dốc dài và mái trường heo hút vẫn là nỗ lực bền bỉ của học sinh, gia đình và nhà trường. Tại Trường phổ thông dân tộc nội trú THCS – THPT Hà Giang, nơi có 560 học sinh đến từ 16 dân tộc cùng học tập, phần lớn các em ở nội trú 24/24 giờ, nhà trường phải xây dựng nền nếp chặt chẽ để vừa quản lý, vừa chăm lo đời sống tinh thần cho học sinh. Trường tổ chức đội xung kích tự quản, để chính học sinh tham gia giữ nề nếp lớp học dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Theo thầy hiệu trưởng Nguyễn Phú San, với học sinh vùng sâu vùng xa, việc được tiếp cận những chương trình mới chính là nguồn động lực lớn, giúp các em tự tin hơn và nhìn thấy trước mắt mình nhiều con đường rộng mở hơn. Trong 560 học sinh của trường, có 151 em thuộc hộ nghèo và cận nghèo, cho thấy phía sau nụ cười của các em vẫn là rất nhiều nỗi lo đời thường mà nhà trường phải cùng gánh vác.

Từ thực tế ấy có thể thấy, để hành trình đến trường của học sinh vùng cao, vùng biên bớt nhọc nhằn, không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực cá nhân. Điều cần hơn là những giải pháp đồng bộ và lâu dài, từ đầu tư giao thông an toàn đến trường, củng cố hệ thống bán trú, nội trú, bảo đảm bữa ăn, nước sạch, chỗ ở, đến hỗ trợ sinh kế cho gia đình để trẻ em không phải nghỉ học vì nghèo. Song song đó là tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, bổ sung giáo viên, cải thiện học liệu, thu hẹp khoảng cách số và duy trì sự vào cuộc bền bỉ của chính quyền, nhà trường, đoàn thể ở từng địa bàn.

Nổi bật
      Mới nhất
      Đến trường nơi non cao: Hành trình học chữ vẫn nhiều gập ghềnh
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO