Công nghệ xanh

Điện hạt nhân Đông Nam Á trước ngã rẽ chiến lược và SMR là giải pháp

Bùi Tú 10/07/2026 07:34

Khủng hoảng năng lượng toàn cầu, sự bùng nổ của AI cùng mục tiêu giảm phát thải đang đưa điện hạt nhân trở lại vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia.

Với Đông Nam Á, đây không chỉ là câu chuyện về một nguồn điện mới mà còn là lựa chọn định hình tương lai năng lượng. Khi Mỹ, Nga và Trung Quốc cùng tăng tốc chào bán công nghệ hạt nhân, các quốc gia trong khu vực sẽ phải cân nhắc giữa chi phí, tốc độ triển khai và quyền tự chủ năng lượng lâu dài.

điện hạt nhân
Điện hạt nhân Đông Nam Á trước ngã rẽ chiến lược. Ảnh: AI

Điện hạt nhân trở lại cùng nhu cầu năng lượng chưa từng có

Trong nhiều năm, điện hạt nhân từng bị phủ bóng bởi các sự cố như Chernobyl hay Fukushima. Tuy nhiên, bức tranh năng lượng toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng.

Việc eo biển Hormuz, tuyến vận chuyển gần 20% lượng dầu thế giới, liên tục đối mặt nguy cơ gián đoạn khiến vấn đề an ninh năng lượng trở thành ưu tiên của nhiều chính phủ. Song song đó, làn sóng phát triển AI, điện toán đám mây và các trung tâm dữ liệu tiêu thụ lượng điện khổng lồ đang tạo ra nhu cầu về nguồn điện ổn định 24/7, điều mà điện gió hay điện mặt trời khó có thể đáp ứng nếu không đi kèm hệ thống lưu trữ quy mô lớn.

Trong hoàn cảnh đó, điện hạt nhân được nhìn nhận như một giải pháp vừa giảm phát thải carbon, vừa bảo đảm nguồn điện nền ổn định. Hiện nay, điện hạt nhân đóng góp khoảng 10% sản lượng điện toàn cầu. Tuy nhiên, hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cam kết tăng gấp ba công suất điện hạt nhân vào năm 2050. Đông Nam Á cũng đang trở thành một trong những thị trường được quan tâm nhất.

Bà Logan Mintz, giám đốc chương trình An ninh Vật liệu Hạt nhân của Sáng kiến giảm thiểu ​​nguy cơ hạt nhân (NTI) cho rằng: Không giống châu Âu hay Bắc Mỹ, phần lớn quốc gia Đông Nam Á có diện tích không quá lớn, lưới điện quốc gia phân tán và quy mô tiêu thụ điện của từng địa phương chưa đủ để vận hành những nhà máy hạt nhân công suất hàng nghìn MW như thế hệ cũ. Điều đó khiến lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR, Small Modular Reactor) trở thành lựa chọn phù hợp hơn.

SMR có công suất chỉ bằng một phần nhỏ nhà máy truyền thống, vốn đầu tư thấp hơn, thời gian xây dựng ngắn hơn và đặc biệt phù hợp với các quốc gia có lưới điện chưa quá lớn như Việt Nam, Indonesia hay Philippines. Bên cạnh đó, tỉ lệ biển trên đất liền cao của khu vực cũng mở ra khả năng phát triển các nhà máy điện hạt nhân nổi.

Dù vậy, khác với các lò phản ứng nghiên cứu đã tồn tại nhiều thập niên, điện hạt nhân thương mại đòi hỏi cả một hệ sinh thái gồm chuỗi cung ứng, đội ngũ kỹ sư, cơ quan quản lí độc lập và hệ thống pháp lí nghiêm ngặt. Đây là những nền tảng mà hầu hết các nước Đông Nam Á vẫn đang trong quá trình xây dựng.

Theo bà Logan Mintz, chính khoảng trống này khiến khu vực sẽ phải dựa nhiều vào các đối tác quốc tế trong nhiều thập niên đầu phát triển điện hạt nhân.

Mỹ muốn trở lại cuộc chơi nhưng Nga và Trung Quốc đã đi trước

Nếu cách đây hai thập niên, Mỹ từng là quốc gia dẫn đầu về công nghệ điện hạt nhân thì hiện nay cuộc chơi xuất khẩu lại đang được Nga và Trung Quốc chiếm ưu thế. Điểm mạnh lớn nhất của Mỹ hiện nằm ở công nghệ mới.

Các doanh nghiệp Mỹ đang phát triển khoảng một chục thiết kế SMR và lò phản ứng tiên tiến khác nhau. Những công nghệ này được kì vọng phục vụ chính nhu cầu điện ngày càng lớn của các trung tâm dữ liệu AI tại Mỹ, đồng thời phù hợp với những quốc gia có quy mô lưới điện nhỏ như ở Đông Nam Á.

Theo bà Logan Mintz, ưu tiên lớn nhất của Mỹ là đưa các tiêu chuẩn về an toàn, an ninh hạt nhân và chống phổ biến vũ khí hạt nhân vào ngay từ những bước đầu của chương trình điện hạt nhân tại các quốc gia đối tác. Ngoài ra, Bộ Năng lượng Mỹ cùng mạng lưới các phòng thí nghiệm quốc gia còn hỗ trợ phân tích tích hợp lưới điện, hoạch định chu trình nhiên liệu, quản lí chất thải phóng xạ cũng như đào tạo đội ngũ quản lí. Đó là mô hình mà Washington kì vọng sẽ tạo ra khác biệt so với Nga và Trung Quốc.

Tuy nhiên, lợi thế công nghệ chưa chắc đồng nghĩa với lợi thế thương mại. Nga và Trung Quốc hiện đều sở hữu các doanh nghiệp hạt nhân do nhà nước hậu thuẫn, có khả năng đưa ra các gói "trọn gói" gồm thiết kế, xây dựng, cấp vốn, cung cấp nhiên liệu và vận hành. Điển hình là mô hình Build-Own-Operate (BOO).

Tại nhà máy Akkuyu ở Thổ Nhĩ Kì, Rosatom không chỉ xây dựng mà còn sở hữu và trực tiếp vận hành nhà máy. Quốc gia tiếp nhận gần như không phải bỏ vốn đầu tư ban đầu mà chỉ mua lượng điện được sản xuất. Đây là lời đề nghị rất hấp dẫn đối với những nền kinh tế đang phát triển.

Điện hạt nhân công nghệ Mỹ tìm cách cạnh tranh về giá

Theo bà Logan Mintz, mô hình BOO có thể giúp các quốc gia nhanh chóng tiếp cận điện hạt nhân với chi phí đầu tư ban đầu thấp, giảm rủi ro xây dựng và rút ngắn thời gian triển khai. Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp nước ngoài vừa sở hữu, vừa vận hành cơ sở hạ tầng chiến lược nằm trên lãnh thổ quốc gia khác, nước sở tại sẽ có ít khả năng tiếp cận toàn bộ hoạt động kĩ thuật của nhà máy. Đó là khác biệt lớn giữa mô hình BOO và cách tiếp cận mà Mỹ đang cố gắng quảng bá.

Do vậy, để cạnh tranh được với Nga và Trung Quốc, Mỹ cũng buộc phải thay đổi. Trong vài năm gần đây, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Mỹ (EXIM) đã đưa ra các gói tín dụng có thể tài trợ tới 85% giá trị dự án SMR với thời hạn hoàn trả kéo dài hơn 20 năm.

Song song đó, Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế Mỹ (DFC) cũng bắt đầu cho phép đầu tư vốn cổ phần vào các dự án điện hạt nhân ở nước ngoài. Đây được xem là câu trả lời của Washington trước các khoản tín dụng ưu đãi mà Nga và Trung Quốc dành cho khách hàng.

Một điểm khác cũng đang được Mỹ chú trọng là bảo đảm nguồn nhiên liệu hạt nhân. Sau khi cấm nhập uranium làm giàu từ Nga vào năm 2024, Washington đã đầu tư hàng tỉ USD để xây dựng năng lực làm giàu uranium trong nước nhằm tạo ra chuỗi cung ứng độc lập. Khi năng lực này hoàn thiện, Mỹ kì vọng có thể cung cấp nhiên liệu cho cả thị trường quốc tế.

Ở chiều ngược lại, Mỹ không khuyến khích các nước mới phát triển điện hạt nhân tự xây dựng cơ sở làm giàu uranium hoặc tái chế nhiên liệu đã qua sử dụng. Theo bà Logan Mintz, điều này vừa giúp giảm nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân, vừa giúp các quốc gia tiết kiệm hàng chục năm và hàng tỉ USD đầu tư vào những hạ tầng không thật sự cần thiết.

Đối với Đông Nam Á, đây có lẽ là giai đoạn quyết định. Nhu cầu điện của khu vực dự kiến sẽ tiếp tục tăng mạnh trong nhiều thập niên tới khi quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và chuyển đổi số diễn ra đồng thời. AI, bán dẫn và các trung tâm dữ liệu sẽ khiến yêu cầu về nguồn điện ổn định trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Trong hoàn cảnh đó, điện hạt nhân gần như chắc chắn sẽ trở thành một phần của cơ cấu năng lượng tương lai. Điều còn bỏ ngỏ không phải là khu vực có phát triển điện hạt nhân hay không, mà là sẽ lựa chọn mô hình hợp tác nào.

Đông Nam Á vì thế đang đứng trước cơ hội hiếm có để tái định hình hệ thống năng lượng của mình. Nhưng giống như nhiều quyết định chiến lược khác, lựa chọn hôm nay sẽ không chỉ quyết định nguồn điện trong vài thập niên tới, mà còn ảnh hưởng đến mức độ tự chủ công nghệ, an ninh quốc gia và vị thế địa chính trị của khu vực trong tương lai.

Nhằm tạo diễn đàn trao đổi giữa cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp, ngày 17/7/2026, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) cùng Tạp chí Một Thế Giới tổ chức Hội thảo “An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng” tại Khách sạn Tao Đàn (35 Nguyễn Trung Trực, phường Bến Thành, TP.HCM)

Nổi bật
      Mới nhất
      Điện hạt nhân Đông Nam Á trước ngã rẽ chiến lược và SMR là giải pháp
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO