Diễn viên Trương Ngọc Ánh có thể đối diện mức án 20 năm tù
Luật sư cho rằng việc bà Trương Ngọc Ánh nâng khống giá trị tài sản trong quá trình gọi vốn không chỉ vi phạm nguyên tắc minh bạch trong đầu tư, mà còn xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt giam đối với diễn viên Trương Ngọc Ánh để điều tra về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công Ty Luật TNHH TGS, xoay quanh vấn đề này.
- Ngày 31.10, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thi hành lệnh bắt giam đối với diễn viên Trương Ngọc Ánh để điều tra về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Khung hình phạt với tội danh này thế nào, thưa ông?
- Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khung hình phạt thấp nhất là phạt cải cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; khung hình phạt cao nhất là hình phạt tù 20 năm.
Tội này được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người nào hành vi như chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4 triệu đến dưới 50 triệu đồng (hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính, kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ) thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Nếu phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, chiếm đoạt từ 50 - 200 triệu đồng, thủ đoạn xảo quyệt… thì bị phạt tù 2 - 7 năm; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, thì bị phạt tù từ 5 - 12 năm; chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 - 20 năm…
- Cơ quan công an cũng thông tin sơ bộ về diễn biến vụ việc. Kết quả điều tra ban đầu cho thấy bà Trương Ngọc Ánh, với vai trò là người đại diện theo pháp luật, đã kêu gọi và nhận vốn đầu tư từ nhà đầu tư nước ngoài để triển khai các dự án bất động sản. Tuy nhiên, bà Ánh bị cáo buộc có dấu hiệu gian dối, nâng khống giá trị dự án để chiếm đoạt tiền chênh lệch. Ông bình luận thế nào về hành vi này?
- Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Nếu kết quả điều tra xác định bà Ánh có hành vi gian dối trong việc kêu gọi đầu tư, cố tình nâng khống giá trị dự án để chiếm đoạt phần tiền chênh lệch, thì đây là dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cụ thể, hành vi của bà Ánh thể hiện yếu tố gian dối có chủ đích - tức là cung cấp thông tin sai lệch về giá trị, tiềm năng hoặc hiệu quả đầu tư của dự án nhằm làm nhà đầu tư tin tưởng và chuyển tiền. Khi tiền đã được chuyển, người thực hiện hành vi không sử dụng đúng mục đích hoặc chiếm đoạt phần chênh lệch.
Ở góc độ pháp lý, việc nâng khống giá trị tài sản trong quá trình gọi vốn không chỉ vi phạm nguyên tắc minh bạch trong đầu tư, mà còn xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Trong trường hợp số tiền chiếm đoạt lớn, hậu quả nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Vụ việc này là bài học cảnh tỉnh cho cả doanh nghiệp và nhà đầu tư. Theo đó, cần thẩm định kỹ thông tin dự án, hợp đồng và giá trị thực tế trước khi góp vốn, đồng thời tăng cường kiểm soát pháp lý đối với hoạt động huy động vốn trong lĩnh vực bất động sản - vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro gian lận.
- Cơ quan chức năng cũng xác định bà Ánh đã sử dụng hơn 10 tỉ đồng tiền bồi thường đất thuộc về công ty và nhà đầu tư vào mục đích cá nhân mà không báo cáo, không hạch toán sổ sách. Ngoài ra, việc lợi dụng quyền hạn để rút tiền từ tài khoản công ty, chỉ đạo lập bút toán giả và làm sai lệch báo cáo tài chính cũng được xác định nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt. Nếu đúng như cáo cuộc, hành vi này được nhìn nhận thế nào dưới góc độ pháp lý?
- Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Đây là hành vi sử dụng tiền của công ty và nhà đầu tư cho mục đích cá nhân, rút tiền trái phép, lập bút toán giả, làm sai lệch báo cáo tài chính để che giấu hành vi chiếm đoạt - là những dấu hiệu rất điển hình của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), đồng thời có thể kèm theo hành vi “Giả mạo trong công tác” hoặc “Làm sai lệch sổ sách kế toán” tùy mức độ và hậu quả gây ra để xác định về hành vi phạm tội.

Cụ thể, với vai trò là người đại diện theo pháp luật, có quyền quản lý tài sản và tài khoản của công ty, bà Ánh có nghĩa vụ sử dụng, hạch toán và báo cáo trung thực về tài chính doanh nghiệp. Việc tự ý chiếm đoạt hơn 10 tỉ đồng tiền bồi thường - là tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty và nhà đầu tư - để sử dụng cá nhân cho thấy ý thức chiếm đoạt rõ ràng, thỏa mãn yếu tố cấu thành của tội danh trên.
Ngoài ra, việc chỉ đạo lập bút toán giả và làm sai lệch báo cáo tài chính là hành vi có tính chất che giấu tội phạm, làm sai lệch bản chất hoạt động kinh doanh, gây thiệt hại cho nhà đầu tư, mất lòng tin của đối tác và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư.
Ở góc độ pháp lý, nếu được chứng minh đầy đủ, bà Ánh có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt cao - có thể lên tới 20 năm tù, đồng thời buộc hoàn trả toàn bộ số tiền chiếm đoạt, khắc phục hậu quả.
Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp, làm tổn hại đến niềm tin của thị trường, nên cần được xử lý nghiêm để răn đe và bảo vệ sự minh bạch trong hoạt động đầu tư, kinh doanh.
- Dưới góc độ pháp lý, vi phạm của bà Ánh liệu có bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào không?
- Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Hành vi của bà Ánh có thể bị áp dụng nhiều tình tiết tăng nặng nếu bà Ánh không thực hiện một mình, mà có chỉ đạo nhân viên kế toán, bộ phận tài chính hoặc người khác lập chứng từ, bút toán giả, làm sai lệch báo cáo, thì hành vi này có tính chất cấu kết, phân công vai trò, đủ yếu tố “có tổ chức”.
Ngoài ra, bà Ánh là người đại diện theo pháp luật, có quyền quản lý tài sản và tài khoản công ty, nên việc sử dụng vị trí này để chiếm đoạt tài sản là tình tiết tăng nặng rõ ràng. Hoặc nếu hành vi rút tiền, chiếm đoạt và gian dối được thực hiện nhiều lần, trong nhiều giai đoạn khác nhau, hoặc tổng số tiền chiếm đoạt trên 500 triệu đồng, thì đều là căn cứ tăng nặng.
- Với những vụ án thế này, cơ chế đền bù thiệt hại, khắc phục hậu quả ra sao? Thưa ông?
- Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Ở những vụ án hình sự liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản trong doanh nghiệp như trường hợp của bà Ánh, vấn đề đền bù thiệt hại và khắc phục hậu quả được xem là nội dung bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công ty, nhà đầu tư và các bên bị hại.
Về nguyên tắc pháp lý, theo Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự 2015, người phạm tội phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi của mình gây ra.

Cụ thể, về tài sản chiếm đoạt: Cơ quan điều tra sẽ phong tỏa, kê biên tài sản của bị can (như nhà, đất, xe, tài khoản ngân hàng, cổ phần, cổ phiếu...) để bảo đảm thi hành nghĩa vụ bồi thường. Nếu xác định rõ số tiền chiếm đoạt (ví dụ hơn 10 tỉ đồng), tòa án sẽ buộc bị cáo hoàn trả toàn bộ số tiền đó cho công ty và nhà đầu tư.
Về hậu quả gián tiếp: Nếu hành vi của bà Ánh gây thiệt hại thêm cho công ty, như mất uy tín, đổ vỡ dự án, mất cơ hội hợp tác, thì các bên bị hại có quyền khởi kiện dân sự độc lập hoặc yêu cầu tòa án hình sự xem xét trong cùng vụ án để yêu cầu bồi thường bổ sung.
Về khắc phục hậu quả: Trong quá trình điều tra và xét xử, nếu bị can tự nguyện nộp lại tiền, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại hoặc hợp tác với cơ quan điều tra, đây có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Ngược lại, nếu cố tình tẩu tán tài sản, không hợp tác, thì ngoài việc bị xử ở khung hình phạt nặng hơn, việc thu hồi tài sản cho các bên bị hại sẽ khó khăn hơn nhiều.
Trong những vụ án như thế này, khôi phục tài sản và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư là mục tiêu trọng tâm, nên các cơ quan tiến hành tố tụng thường phối hợp chặt chẽ giữa xử lý hình sự và thu hồi dân sự. Đồng thời, đây cũng là bài học cảnh báo cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư về việc tăng cường cơ chế kiểm soát nội bộ, minh bạch tài chính và thẩm định kỹ trước khi góp vốn.
- Xin cảm ơn ông!
Theo cơ quan công an, Công ty Đất Rồng được thành lập năm 2007 do bà Trương Ngọc Ánh làm giám đốc và là người đại diện theo pháp luật. Bà Ánh kêu gọi ông Phạm (quốc tịch Ireland) góp vốn đầu tư tổng cộng 9,1 triệu USD để triển khai hai dự án bất động sản, trong đó có dự án tòa nhà Indochine tại 112 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3 (cũ). Riêng dự án này, ông Phạm đã chuyển 4,49 triệu USD, tương đương 72 tỉ đồng.
Theo hợp đồng đầu tư ký ngày 25.1.2008, dự án tòa nhà Indochine phải do Công ty Đất Rồng đứng tên sở hữu với giá trị hơn 12.917 lượng vàng. Tuy nhiên, ngay trước thời điểm ký hợp đồng, nữ diễn viên cùng ông Nguyễn (61 tuổi) đã đứng tên cá nhân ký hợp đồng mua bán với 4 hộ dân trong khu đất dự án chỉ với 7.917 lượng vàng.
Cơ quan điều tra xác định, trong đó Ánh mới thanh toán 3.000 lượng vàng nhưng lại hạch toán sổ sách công ty đã chi 4.458 lượng, vi phạm thỏa thuận đầu tư, có dấu hiệu gian dối, nâng khống giá trị dự án để chiếm đoạt phần chênh lệch.
Hồi tháng 12.2007, UBND TP.HCM đã ban hành quyết định thu hồi khu đất này để mở rộng Trường THPT Lê Quý Đôn, đồng thời chi trả hơn 26,1 tỉ đồng tiền bồi thường cho 4 hộ dân. Sau đó, các hộ dân hoàn trả toàn bộ số tiền này cho Trương Ngọc Ánh và Nguyễn. Tuy nhiên, Ánh chỉ chuyển về công ty và nhà đầu tư 3 tỉ đồng, còn lại hơn 10 tỉ đồng đã sử dụng vào mục đích cá nhân, không báo cáo, không hạch toán sổ sách.
Ngoài ra, cơ quan điều tra cáo buộc, trong quá trình điều hành doanh nghiệp, Ánh lợi dụng quyền hạn người đại diện pháp luật, tự ý rút tiền từ tài khoản công ty, chỉ đạo lập bút toán giả, làm sai lệch báo cáo tài chính nhằm che giấu hành vi chiếm đoạt.