Độ nguy hiểm của vi rút khiến nhiều nước châu Á cảnh giác
Trước sự bùng phát của vi rút Nipah (NiV) tại bang Tây Bengal (Ấn Độ), nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á nhanh chóng kích hoạt các biện pháp kiểm dịch nghiêm ngặt như thời COVID-19.
Là nơi khởi phát, Ấn Độ đã tiến hành cách ly hàng trăm người gồm cả nhân viên y tế từng tiếp xúc mầm bệnh, đồng thời theo dõi sát tình hình ổ dịch Tây Bengal.

Nước láng giềng Nepal lập tức siết chặt kiểm dịch tại cửa khẩu đường bộ quan trọng lẫn sân bay quốc tế Tribhuvan. Trọng tâm giám sát dịch tễ là tỉnh Koshi giáp biên giới. Mạng lưới 199 phòng xét nghiệm trên toàn quốc được đặt trong tình trạng sẵn sàng tiếp nhận mẫu bệnh phẩm.
Từ 0h ngày 26.1, các biện pháp nghiêm ngặt được triển khai tại toàn bộ sân bay lớn của Thái Lan như Suvarnabhumi, Don Mueang, Phuket. Hành khách phải khai báo lịch sử đi lại, trường hợp thân nhiệt cao hay có triệu chứng nghi nhiễm NiV cần trải qua kiểm tra thêm.
Cơ quan kiểm soát dịch bệnh Hồng Kông cũng tăng cường kiểm tra sức khỏe hành khách tại sân bay – đặc biệt là người đến từ Ấn Độ. Nhân viên y tế tiến hành đo thân nhiệt ở cửa ra máy bay với các chuyến từ vùng dịch. Trường hợp nghi ngờ được chuyển ngay đến bệnh viện để xét nghiệm và điều tra.
Đài Loan tái lập quy trình kiểm tra sức khỏe tương tự thời COVID-19 với hành khách nhập cảnh, nâng mức độ cảnh báo lên nhóm 5 (nhóm cao nhất dành cho bệnh truyền nhiễm mới nổi nghiêm trọng) để bắt buộc tất cả cơ sở y tế phải áp dụng biện pháp đặc biệt đồng thời báo cáo ngay lập tức nếu ghi nhận ca nhiễm. Họ cũng duy trì khuyến cáo du lịch cấp 2 với bang Kerala phía tây nam Ấn Độ – nơi từng là điểm nóng bùng phát NiV trong quá khứ.

Tình hình dịch bệnh
Đến nay dịch bệnh chỉ bùng phát trên địa bàn Tây Bengal. Tính đến ngày 23.1, có 5 ca nhiễm chủ yếu là bác sĩ và y tá một bệnh viện tư điều trị cho ca nhiễm. Khoảng 100 cá nhân đang cách ly tại gia, 190 trường hợp tiếp xúc được xét nghiệm.
Trước đó vào giữa năm ngoái, tại Kerala từng có ổ dịch Nipah với 4 ca nhiễm và 2 ca tử vong.
Chưa quốc gia hay vùng lãnh thổ nào khác ngoái Ấn Độ ghi nhận ca nhiễm. Tuy nhiên kinh nghiệm từ COVID-19 cho thấy chủ động ngăn dịch bệnh xâm nhập là cần thiết.
NiV nguy hiểm cỡ nào?
NiV là vi rút nguy hiểm hàng đầu thường lây truyền từ động vật sang người, lây truyền qua thực phẩm bị nhiễm bẩn hoặc từ người sang người thông qua dịch cơ thể. Bệnh có các đặc điểm đáng lo ngại sau:
Thứ nhất, tỷ lệ tử vong cực cao. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xác định tỷ lệ tử vong của NiV dao động từ 40 đến 75%, thậm chí cao hơn tùy điều kiện y tế nơi bùng phát. Con số này cao hơn COVID-19 rất nhiều lần.
Thứ hai, triệu chứng đa dạng và khó lường. Bệnh khởi phát với triệu chứng giống cúm (sốt, đau đầu, đau cơ) rồi tiến triển nhanh thành suy hô hấp cấp hoặc viêm não. Một số trường hợp ủ bệnh đến 45 ngày hoặc tái phát sau nhiều tháng, nhiều năm (nhiễm trùng tiềm ẩn).
Thứ ba, gây biến chứng não nặng nề. Vi rút gây viêm não cấp tính dẫn đến lơ mơ, co giật và hôn mê trong vòng 24 - 48 giờ. Khoảng 20% người sống sót sau viêm não phải chịu di chứng thần kinh vĩnh viễn như thay đổi tính cách hoặc rối loạn co giật.
Hiện tại chưa có thuốc đặc trị hay vắc xin phòng ngừa NiV. Nỗ lực điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng.

Lâu nay NiV chỉ bùng phát ở châu Á. Đợt dịch bệnh đầu tiên được ghi nhận vào giao đoạn 1998 – 1999, liên quan đến một số người chăn nuôi lợn của làng Sungai Nipah (Malaysia). Sau đó lại có vài đợt dịch riêng lẻ tại Bangladesh, Ấn Độ, Philippines, Singapore.
Phạm vi vật chủ của NiV rộng hơn rất nhiều. Vài loài dơi hoang dã sống ở Campuchia, Ghana, Indonesia, Madagasca, Philippines, Thái Lan đều mang mầm bệnh. Vật nuôi như lợn, ngựa, dê, cừu, mèo, chó cũng đều có thể là vật chủ.
Biện pháp phòng ngừa
Để ngăn chặn lây nghiễm từ động vật và thực phẩm, ta nên rửa sạch, gọt vỏ kỹ trái cây trước khi ăn. Tuyệt đối không ăn quả có dấu hiệu bị chim, dơi hoặc động vật khác cắn/ăn dở. Không uống nước thốt nốt tươi chưa qua đun nấu. Hạn chế tiếp xúc dơi hoặc động vật hoang dã khác.
Còn với nguy cơ lây nhiễm từ người sang người, biện pháp phòng ngừa tốt nhất là thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch, đặc biệt sau khi tiếp xúc với người bệnh hoặc động vật. Người làm việc trong quy trình giết mổ hay tiêu hủy động vật cầng sử dụng đầy đủ trang bị bảo hộ (khẩu trang, găng tay, áo choàng). Hạn chế đến vùng dịch hay vùng nguy cơ cao theo khuyến cáo của cơ quan y tế địa phương.