Cà phê Một thế giới

Đỗ Trung Tá - Cha đẻ của Bưu điện Văn hóa xã: ‘Việt Nam phải phát triển ứng dụng AI Việt’

Lê Minh Đức, Đỗ Minh Hà Tuấn 23/08/2025 06:23

“Tại hội nghị, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã cho phép các đại biểu nghỉ 30 phút không thảo luận để xem phòng demo internet với mấy chục máy… Tới ngày 19.11.1997, internet được khai trương tại Việt Nam”.

Ong-Trung-bia nho

Đúng giờ hẹn, khi tôi vừa chạm tay vào bấm chuông thì ông Đỗ Trung Tá - nguyên Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn Thông đã mở cửa đón. Trong phòng khách giản dị, phần nhiều là sách cộng với một chiếc điện thoại số, một chiếc radio đặt ở vị trí bắt mắt nhất.

Ông Tá vui vẻ mở đầu câu chuyện: “Mình xuất thân từ nông thôn nên luôn tự nhủ điều gì tốt, giúp cho cuộc sống của người nông dân bớt nhọc nhằn hơn là phải gắng làm cho được. Có lần, thấy một chị công nhân môi trường tranh thủ lúc nghỉ ngơi, bấm điện thoại di động nói chuyện với con, hỏi con đã ăn cơm, học bài chưa, mẹ sắp về… mà tôi cảm động rớt nước mắt”.

Có thể hiểu được những cảm xúc từ sâu thẳm trái tim của GS-TSKH Đỗ Trung Tá khi nhắc tới câu chuyện giữa hai mẹ con được ông đề cập ở trên. Ông Tá là con út trong gia đình thuần nông có 3 chị em ở Mỹ Đức (Hà Tây cũ, nay là Hà Nội). Sau này ông kinh qua các chức vụ Chủ tịch HĐQT VNPT, Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn Thông, Phái viên của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ Quốc gia, Chủ nhiệm chương trình công nghệ cao của Bộ Khoa học và Công nghệ … Ở vị trí nào, ông cũng dốc hết tâm huyết, làm tất cả những gì có thể để người nông dân, người lao động bớt nhọc nhằn hơn.

ong-trung-tapc-version_03.jpg

- Cách đây gần 30 năm, ông cùng các cộng sự đã góp công lớn đưa internet về Việt Nam. Cùng với đó, ông được coi là “cha đẻ” của Bưu điện Văn hóa xã (BĐ VHX) - một điểm nhấn đặc biệt trong lịch sử ngành bưu chính viễn thông Việt Nam. Ý tưởng BĐ VHX bắt đầu từ đâu, thưa ông?

- Ông Đỗ Trung Tá: Từ khi còn là một cậu bé quen với việc đồng áng, tôi đã cảm nhận rõ sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Lớn lên, mình ở thành thị nhưng rau, gạo, hoa quả, thịt trứng… ăn uống hằng ngày hầu hết đều từ nông thôn mà ra. Tới khi là đại biểu quốc hội của tỉnh Bắc Giang năm 1997, tôi đã ấp ủ phải đưa “internet về làng” và “nông dân với di động dắt cạp quần”. Mình mong muốn được nhìn thấy người nông dân có thể dễ dàng giao tiếp, giảm sự vất vả, di chuyển trong quá trình lao động sản xuất. Tôi thuyết phục anh em trong ngành rằng: Mọi cái mình làm cho nông dân thì đừng nghĩ tới lợi nhuận mà nên vì lợi ích trước.

Thời điểm cách đây 30 năm, khi đã là Chủ tịch HĐQT VNPT, mỗi khi về quê, tôi thường mang theo sách báo cũ tặng cho quán nước trước cửa nhà. Hàng tháng sau, tôi thấy những số báo đó vẫn còn. Tôi tự nhủ mình ở Hà Tây, chỉ cách Hà Nội khoảng 40km còn lạc hậu về thông tin như vậy thì đến các tỉnh nghèo, các vùng sâu vùng xa khác, bà con còn khó khăn trong việc tiếp cận tri thức đến thế nào? Từ đó, tôi quyết định phải tìm cách xây dựng một mạng lưới để mọi người tiếp cận văn hóa, sách báo dễ dàng hơn. Và BĐ VHX ra đời với mục tiêu cung cấp các dịch vụ viễn thông, bưu chính và những thiết chế văn hóa miễn phí cho người dân.

Với chỉ thị liên ngành giữa Bộ Văn hóa - Thông tin và Tổng cục Bưu điện, năm 1998, điểm BĐ VHX được xây dựng trên toàn quốc. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam lúc đó có 9 vạn người, tôi vận động toàn bộ cán bộ nhân viên đọc sách báo xong, tập trung lại chuyển công đoàn, hàng tuần đưa về phân phát cho các điểm BĐ VHX.

Bắt đầu từ vài trăm điểm, BĐ VHX phát triển rất nhanh, sau 20 năm đã lên tới 8 nghìn điểm. Tôi rất mừng khi chứng kiến mọi tầng lớp nhân dân, từ các cụ về hưu, các anh bộ đội, thương binh tới các cháu thiếu niên… tới điểm BĐ VHX đọc sách báo, giao lưu, học cách làm ăn, chăn nuôi… tạo nên một bầu không khí nhộn nhịp, một không gian sinh hoạt cộng đồng rất gần gũi.

BĐ VHX cũng là điểm sáng để các đồng chí lãnh đạo trung ương, lãnh đạo các tỉnh thành tới xã tham quan. Từ mô hình địa phương vốn chỉ có điện - đường -trường - trạm, với BĐ VHX, mô hình đã được bổ sung thành điện - đường - trường - trạm - điểm, mang lại lợi ích lớn, được toàn xã hội ủng hộ.

ong-trung-tapc-version_05.jpg

- Bên cạnh BĐ VHX, trong sự nghiệp của mình, còn có “công trình” nào khiến ông tự hào?

- Ông Đỗ Trung Tá: Đến lúc này, điều tôi tự hào nhất là ngành có tầm nhìn chiến lược rất tốt, chưa lúc nào thấy bị hẫng trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Tư tưởng của tôi là tiên tiến - tương thích - toàn cầu, và có thể nói, những bước phát triển công nghệ hiện nay đều nằm trong tầm nhìn chiến lược của ngành.

Năm 1998, doanh thu của ngành bưu chính viễn thông là 1 tỉ USD, cũng rất lớn đấy; nhưng tôi đã cảnh báo, có lúc chúng ta sẽ bỏ cước viễn thông, cước điện thoại, và chúng ta tính cước bằng độ lớn của dữ liệu, tốc độ của dữ liệu. Chúng tôi xác định công nghệ thông tin mới là nguồn thu trong tương lai, uy tín là nguồn thu vô giá.

Trước đó nữa, tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII vào tháng 12.1996, với tư cách là Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng Tổng cục Bưu điện, tôi đã trình bày một bản kiến nghị với Trung ương, cho Việt Nam mở internet, đúng thời điểm phù hợp khi Trung ương xây dựng đề án về khoa học công nghệ và giáo dục, xác định đó là quốc sách hàng đầu. Hai lĩnh vực này, nếu thiếu internet thì làm sao là quốc sách hàng đầu được? Tôi cũng đã chuẩn bị một phòng demo giới thiệu với các vị lãnh đạo thế nào là internet, thế nào là “bức tường lửa”; cộng với sự phối hợp của bưu điện, công an, quân đội, sự cảnh giác của người dùng để mình có thể hạn chế mặt tiêu cực của internet và đẩy sự tích cực lên. Tại hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã cho phép các đại biểu nghỉ 30 phút không thảo luận để xem phòng demo internet với mấy chục máy. Sau đó, được sự nhất trí của Trung ương và qua các bước chuẩn bị, tới ngày 19.11.1997, internet được khai trương tại Việt Nam.

ong-trung-tapc-version_07.jpg

Cũng tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII, tôi đã xin Trung ương cho phép thí điểm mô hình gắn kết giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo và sản xuất kinh doanh trong một số tổng công ty lớn. Được Trung ương đồng ý, tôi thành lập Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông thuộc VNPT. Mô hình này đã gắn kết khoa học công nghệ với kinh tế.

Điểm đáng tự hào tiếp theo là ngành đã gắn được khoa học công nghệ với hội nhập quốc tế. Tư tưởng phát triển công nghiệp công nghệ thông tin của tôi là chúng ta rất khó, thậm chí có thể nói là không thể làm từ A (linh kiện) đến Z (sản phẩm hoàn chỉnh). Nhưng chúng ta có thể làm từ Z đến A, “xác tây hồn ta”.

Ví dụ, nước ngoài có linh kiện, đạt chất lượng, bán với giá rẻ thì mình cứ mua. Điều quan trọng là trí tuệ - giá trị cốt lõi của mình đâu, ý tưởng, thiết kế, phần mềm của mình đâu, hệ điều hành, giải pháp tổng thể của mình như thế nào? Thực tế, mở cái máy nổ của Nhật Bản ra là đồ của Đài Loan, Hàn Quốc. Máy bay Boeing của Mỹ cũng có linh kiện Israel. Nghĩa là chúng ta làm sao phải thổi được “cái hồn” vào sản phẩm, khẳng định đó là sản phẩm của Việt Nam mà không ai nhận là của họ được. Chứ còn “cái xác”, mua đâu rẻ, chất lượng, hợp lý thì mua.

ong-trung-tapc-version2_02.jpg

- Thời điểm này, khoa học công nghệ đang phát triển rất mạnh mẽ với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI) tác động tới mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội. Ông có lo ngại AI sẽ phá hoại những khuôn mẫu, giá trị về đạo đức, tư tưởng, khiến con người “lười suy nghĩ”?

- Ông Đỗ Trung Tá: Đầu tiên phải khẳng định AI là một thành tựu rất lớn của khoa học công nghệ. Trước đây tôi đã suy nghĩ về một “bộ não điện tử”. Ví dụ trong y tế, chỉ cần khai triệu chứng bệnh thì có cả triệu bác sĩ cùng chẩn đoán, đưa ra phác đồ điều trị. Trong giáo dục, hằng ngày có biết bao giáo viên đang viết, nói về những bài thơ, tác phẩm văn học. Nếu có “bộ não điện tử” tập hợp hết những lời hay ý đẹp, giảng dạy cho học sinh thì tốt biết bao. Những điều đó, bây giờ AI đã làm được.

Nhưng nếu không có sự kiểm soát, lạm dụng AI thì cũng rất nguy hiểm. Và tôi mong rằng Việt Nam sẽ có những ứng dụng AI nổi bật của riêng mình.

Điều này cũng liên quan tới câu chuyện “xác tây, hồn ta” mà tôi đã đề cập tới ở trên. Với AI, cứ đối tác nào tặng không thì mình sẽ nhận, để không vi phạm luật sở hữu trí tuệ; tiếp đó, những thứ cần thì mình phải mua.

Điều quan trọng nhất là từ những gì có được, mình phải làm sao tập hợp, cho ra được một ứng dụng AI Việt Nam, khẳng định thương hiệu toàn cầu, chứ không phải của Mỹ hay Trung Quốc… Việt Nam phải có nhiều người có thể tập hợp những “xác tây” như thế thành “hồn cốt” của Việt Nam.

Ứng dụng AI đó có đạo đức, có sự minh bạch, tuân theo đạo đức, pháp luật Việt Nam. Vì thế phải đào tạo nhân tài, thu hút nhân tài. Tôi tin là Việt Nam làm được, trí tuệ Việt Nam rất đáng ngưỡng mộ. Không phải ngẫu nhiên mà thế hệ trẻ Việt Nam đã giành nhiều HCV tại các cuộc thi Olympic trí tuệ nhân tạo quốc tế. Trong tương lai, sau AI, big data, blockchain, vệ tinh tầm thấp, sự phát triển internet vạn vật (IoT), máy tính lượng tử… thì chắc chắn còn những công nghệ mới mà ở thời điểm này chúng ta chưa thể hình dung hết được.

ong-trung-tapc-version2_04.jpg

- Vậy ông có “kiến tạo” gì trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước, để Việt Nam không bị động trong sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ?

- Ông Đỗ Trung Tá: Trong thời điểm này, ngành công nghệ thông tin cần nhận rõ trách nhiệm của mình. Tôi có suy nghĩ về “bộ tứ” trụ cột trong kỷ nguyên chuyển đổi số hiện nay. Nếu như trước đây, ngành bưu điện chỉ chuyên hạ tầng về viễn thông, có internet, di động là được rồi; thì bây giờ phải thông minh hoá hạ tầng số. Tất cả ứng dụng của công nghệ thông tin phải mang tính chất thống nhất, áp dụng đồng bộ cho cả nước. Tôi đã góp ý với Bộ Khoa học và Công nghệ, ai đăng ký đề án mang tính chiến lược là phải đảm bảo tính toàn quốc. Còn nếu cứ ông A làm chỗ này, ông B làm chỗ kia, cái này mua của ông A, cái kia mua của ông B, các địa phương “nối vào nhau” rất mệt khi ông A và ông B không gặp được nhau, mất nhiều thời gian, tốn kém.

Thứ 2 là phải trí thức hóa nguồn nhân lực. Hiện tại và tương lai, người nông dân cũng đang dần trở thành trí thức với chương trình bình dân học vụ số. Nông dân đã sử dụng internet và nếu họ sử dụng được AI thì có kém gì sinh viên?

Thứ 3 là toàn cầu hóa tiềm năng. Chúng ta đã tận dụng trí tuệ nhân loại, mang nhiều thứ tiến bộ nhất của thế giới về Việt Nam, vậy trong tương lai, Việt Nam có đóng góp được gì vào “dòng chảy” ấy không? Có những nét đặc biệt của văn hoá, di sản văn hoá Việt Nam mà người Nhật Bản, Hàn Quốc sang đây bao nhiêu năm chỉ để nghiên cứu và họ đồng cảm, thấy hay hơn ở nước họ. Bao năm qua, chúng ta thường chỉ nghĩ tới việc nhập khẩu, chuộng đồ ngoại mà ít nghĩ tới xuất khẩu, bán đồ Việt Nam. Tôi tin là thế hệ trẻ Việt Nam có thể thực hiện được tư tưởng toàn cầu hoá tiềm năng.

Thứ 4, là tiêu chuẩn hóa cuộc sống số, nếu làm được thì thật sự vĩ đại. Trước đây, ta chỉ thiên về chuyện tiêu chuẩn hoá cuộc sống, ăn uống đủ, đi xem phim, ca nhạc, đi du lịch, sống hòa thuận gia đình, con cái học hành, trưởng thành là được.

Nhưng tương lai rất gần thôi, chúng ta sẽ sống chung với robot, AI. Vấn đề đặt ra là đạo đức của người làm ra AI, đạo đức người sử dụng AI như nào? Bởi vì chính mình dốc tâm huyết làm ra nhưng không khéo làm hại người khác. Chỉ cần một con robot cài phần mềm độc hại là đủ gây nguy hiểm như nào với con người. Tốc độ phát triển của AI lúc này không kìm lại được khi thị trường AI tăng trưởng quá nhanh, lợi nhuận lên tới con số hàng tỉ USD. Đó thực sự là một thách thức đối với toàn cầu.

ong-trung-tapc-version2_06.jpg

- Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập nước, ông muốn gửi gắm thông điệp gì tới thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và những người đang hoạt động trong ngành khoa học công nghệ, bưu chính viễn thông nói riêng?

- Ông Đỗ Trung Tá: Để có được những thành tựu kể trên, đặc biệt là việc đưa internet vào Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh tới vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong suốt 80 năm đấu tranh giành độc lập, chiến đấu, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Trong thời chiến, nhân viên bưu chính viễn thông xuất phát là những giao liên, vừa đưa thư từ, báo chí, vận chuyển vũ khí, công văn chỉ đạo chiến đấu; vừa là người dẫn đường cho các cán bộ hoạt động bí mật. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, ngành bưu điện đã có gần 1 vạn người hi sinh với rất nhiều tấm gương anh hùng, với tinh thần “Đứt dây như đứt ruột/Gãy cột như gãy xương”. Thời chiến, có rất nhiều câu chuyện cảm động, cảnh người ở dưới bắn máy bay địch để bảo vệ người trên cột tiếp tục nối dây thông tin liên lạc.

Sự quả cảm ấy, tinh thần ấy cần được thế hệ trẻ ngày nay tiếp bước, dấn thân, cống hiến, không ngừng học hỏi, sáng tạo, nỗ lực nâng cao hiệu quả trong học tập, nghiên cứu, sáng tạo.

Thời cơ, thể chế đang rất thuận lợi khi cuối năm 2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22.12.2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia với quan điểm chỉ đạo: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Nghị quyết 57 sẽ mở ra đường hướng, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện với Cà phê Một Thế Giới. Xin chúc ông luôn mạnh khỏe để tiếp tục hiến kế cho sự phát triển khoa học công nghệ Việt Nam.

ong-trung-tapc-version2_09.jpg

Nổi bật
      Mới nhất
      Đỗ Trung Tá - Cha đẻ của Bưu điện Văn hóa xã: ‘Việt Nam phải phát triển ứng dụng AI Việt’
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO