Hỏi - Đáp

Đổi mới công nghệ để tháo gỡ điểm nghẽn của ngành tôm Cà Mau

Văn Kim Khanh • 01/11/2026 07:00

Ngành tôm Cà Mau và ĐBSCL cần chuyển từ nuôi thâm canh sang quản trị tổng thể, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải.

Từ thực tiễn nuôi tôm thẻ thâm canh, TS. Nguyễn Thanh Mỹ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Mỹ Lan, cho rằng ngành tôm Cà Mau và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cần thay đổi cách tiếp cận. Công nghệ phải đồng thời giải quyết dịch bệnh, ô nhiễm, chi phí và yêu cầu thị trường, thay vì chỉ chạy theo năng suất.

ca mau up 7
TS. Nguyễn Thanh Mỹ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Mỹ Lan nói về việc Cà Mau cần cải tiến công nghệ trong nuôi tôm. Ảnh: Văn Kim Khanh

- Thưa TS. Nguyễn Thanh Mỹ, đâu là những điểm nghẽn ‘cốt tử’ đang hạn chế sức cạnh tranh của ngành tôm Cà Mau và ĐBSCL?

- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Các khó và tác động qua lại, trước hết là con giống: chất lượng không đồng đều, nguy cơ mang mầm bệnh và phụ thuộc tôm bố mẹ nhập khẩu làm tăng rủi ro. Tôm có thể mắc bệnh do virus đốm trắng, TSV, IHHNV, IMNV; vi khuẩn AHPND/EMS, Vibrio; kí sinh trùng và EHP. Các hội chứng phân trắng, đóng rong, đen mang, mềm vỏ cũng ảnh hưởng tăng trưởng.

Nút thắt lớn khác là nước và chất thải. Nuôi tôm thẻ thâm canh truyền thống sử dụng khoảng 6.000-9.000 m3 nước mỗi tấn tôm. Tôm chỉ hấp thụ khoảng 20-31% nitơ và 10-13% phốt pho trong thức ăn; phần còn lại có thể theo chất thải ra môi trường. Nếu hộ nuôi xả trực tiếp ra kênh rạch, thiếu ao lắng, hệ thống xử lí, trong khi nước cấp cũng lấy từ cùng mạng lưới, ô nhiễm và mầm bệnh sẽ lan truyền. Nước xấu làm tôm dễ bệnh, rồi người nuôi tăng sử dụng thuốc, hóa chất, tạo thêm áp lực môi trường.

nuoi tom 1
Kĩ thuật nuôi tôm ở Cà Mau hiện nay bộc lộ nhiều khuyết điểm cần thay đổi. Ảnh: T.L

Khảo sát Vibrio parahaemolyticus tại Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau cho thấy mức nhạy cảm với kháng sinh khác nhau, cảnh báo nguy cơ kháng thuốc khi sử dụng thiếu kiểm soát. Mặt khác, thức ăn, giống, điện, hóa chất và nhân công làm tăng giá thành; người nuôi còn phải đáp ứng an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xuất khẩu. Tài liệu ước tính phát thải khoảng 14,5 kg CO2 tương đương mỗi kg thịt tôm thẻ. Bài toán không chỉ là tăng sản lượng, mà còn phải bảo đảm an toàn, lợi nhuận và môi trường.

- Cà Mau và ĐBSCL cần ưu tiên giải pháp nào để kiểm soát dịch bệnh, chất lượng nước và rủi ro từ đầu vụ?

- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Phải chuyển từ xử lí sự cố sang quản trị rủi ro. Con giống cần được kiểm soát chất lượng, mầm bệnh trước khi thả. Với EHP, mẫu cần lấy ở chất thải mặt nước, thành bể/ao ương, phân tôm bố mẹ và tôm giống tại đầu ra hố siphon. Xét nghiệm qPCR/real-time PCR với gen SWP hoặc beta-tubulin giúp tăng độ nhạy, xác định tải lượng. Trại giống cần được lấy mẫu đột xuất bởi đơn vị độc lập, lưu trữ và truy xuất kết quả.

BIEU TUONG CON TÔM
Biểu tượng con tôm Cà Mau. Ảnh: T.L

An toàn sinh học phải thực hiện theo vùng. Nước đầu vào cần xử lí; nước thải phải thu gom, lắng và xử lý trước khi xả. Các hộ cùng sử dụng nguồn nước cần phối hợp giám sát, chia sẻ cảnh báo và ứng phó khi có dịch. Người nuôi cần hạn chế lạm dụng kháng sinh, chẩn đoán đúng tác nhân, kiểm soát thức ăn, mật độ thả và sức khỏe tôm. EHP phải được kiểm soát từ tôm bố mẹ, thức ăn tươi sống có nguy cơ mang mầm bệnh đến nguồn nước cấp.

Quản trị ao phải bao quát hạ tầng, vật lí, hóa học, sinh học, vận hành, tài chính, kinh tế và môi trường. Cần theo dõi nhiệt độ, dòng chảy, oxy, pH, độ mặn, amoni, nitrit, khí độc, chất lượng giống và mật độ thả. Ghi nhận dữ liệu giúp điều chỉnh kịp thời.

Cà Mau cần kết nối cơ quan chuyên môn, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi. Chia sẻ dữ liệu dịch bệnh, chất lượng nước và xét nghiệm sẽ giúp cảnh báo sớm. Hỗ trợ công nên tập trung vào kiểm nghiệm, xử lí nước, hạ tầng vùng nuôi và đào tạo; hợp tác xã có thể tổ chức dùng chung dịch vụ quan trắc, xét nghiệm để giảm chi phí.

- Theo TS, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể giúp ngành tôm chuyển sang mô hình xanh, hiệu quả hơn như thế nào?

ca mau up 6
Toạ đàm về đổi mới sáng tạo ở Cà Mau ngày 30/10. Ảnh: Văn Kim Khanh

- TS. Nguyễn Thanh Mỹ: Đổi mới sáng tạo là nhìn vấn đề bằng góc độ khác để tìm giải pháp mới. Nuôi tôm cần thiết kế đồng bộ ao, dòng chảy, thu gom chất thải, oxy, xử lý nước và năng lượng.

Mô hình TOMGOXY Net-Zero được giới thiệu là một hướng cải tiến. Nuôi thâm canh truyền thống dùng 5.500-7.000 kWh điện và 6.000-9.000 m3 nước mỗi tấn tôm, mật độ dưới 150 con/m2, năng suất 10-15 tấn/1.000 m2/năm. Mô hình TOMGOXY Net-Zero hướng đến 2.000-3.000 kWh điện, 2.000-3.000 m3 nước mỗi tấn, mật độ đến 350 con/m2 và năng suất 18-30 tấn/1.000 m2/năm. Thông số này cần được thử nghiệm theo điều kiện từng vùng.

Dòng chảy và siphon phù hợp giúp gom chất thải, hạn chế bùn và khí độc. Hệ thống hòa tan oxy, cảm biến và tự động hóa hỗ trợ phát hiện biến động. Cảm biến CH4, CO2 trong ao và rừng ngập mặn cung cấp dữ liệu phát thải.

Công nghệ phải đi cùng hiệu quả tài chính. Người nuôi cần tính vốn, chi phí đầu vào và khả năng hoàn vốn. Doanh nghiệp cần hỗ trợ tiêu chuẩn, thu mua minh bạch, truy xuất nguồn gốc, thị trường; thiết bị phải đi kèm hướng dẫn vận hành, bảo trì.

Cà Mau phải gắn nuôi tôm với bảo vệ rừng ngập mặn. Tài liệu nêu một hecta rừng có thể hấp thụ khoảng 123 tấn CO2 tương đương mỗi năm. Mô hình kết hợp ao nuôi, xử lí nước, năng lượng mặt trời và bảo tồn rừng cần đo lường phát thải. Nghiên cứu chất ức chế tín hiệu Vibrio hoặc vaccine từ tảo phòng đốm trắng mở ra cơ hội khởi nghiệp, nhưng phải kiểm chứng.

Startup phát triển cảm biến, phần mềm quản lí ao, xử lí nước và dịch vụ phân tích dữ liệu. Nhà nước hoàn thiện hạ tầng, giám sát; viện, trường nghiên cứu; doanh nghiệp đầu tư công nghệ, thị trường; hợp tác xã tổ chức sản xuất; người nuôi tuân thủ quy trình, ghi chép dữ liệu. Phối hợp đồng bộ sẽ tạo ra năng suất, chất lượng, lợi nhuận và giá trị lâu dài.

TS. Nguyễn Thanh Mỹ nói về việc Cà Mau cần cải tiến công nghệ trong nuôi tôm. Clip: Văn Kim Khanh
Nổi bật
      Mới nhất
      Đổi mới công nghệ để tháo gỡ điểm nghẽn của ngành tôm Cà Mau
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO