Đưa Giáo dục Mở vào thực tiễn giảng đường đại học Việt Nam
TS. Trương Ngọc Tường Vi nhấn mạnh việc chuyển dịch Giáo dục Mở từ chính sách thành hành động thực chất tại Hội nghị Open AP 2026.
Trong khuôn khổ Hội nghị Giáo dục Mở Châu Á - Thái Bình Dương (Open AP 2026) diễn ra tại Hà Nội, phiên họp toàn thể trước giờ nghỉ trưa đã thu hút sự chú ý đặc biệt của đông đảo đại biểu và chuyên gia. Diễn giả khách mời - Tiến sĩ Trương Ngọc Tường Vi, giảng viên Đại học Melbourne (Australia), Trưởng Mạng lưới Go Global Châu Á - Thái Bình Dương trình bày bài tham luận quan trọng với chủ đề: "Gần hơn với thực tiễn: Tập trung phát triển Giáo dục Mở tại Việt Nam và các bước đi thực tế để đưa chính sách vào cuộc sống".

Bài trình bày đã phác thảo toàn diện hành trình thể chế hóa Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những bài toán thực thi cấp bách mà hệ thống đại học cần giải quyết để đưa chủ trương vào đời sống học thuật.
Cột mốc thể chế và các mục tiêu chiến lược
Mở đầu bài phát biểu, TS. Trương Ngọc Tường Vi nhấn mạnh Việt Nam đã bước qua một "ngưỡng cửa chính sách" mang tính lịch sử. Đây là thành quả tích tụ qua nhiều năm nỗ lực của cả cộng đồng, khởi đầu từ các sáng kiến tự phát như Hệ tri thức mở Việt Nam (VOER) hay các kho tài nguyên nội bộ từ những năm 2000, cho đến các chỉ đạo hướng dẫn ngành năm 2019 và cột mốc Quyết định số 1117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Đặc biệt, sự ra đời của Thông tư 61 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành (có hiệu lực từ ngày 1/9/2026) đã chính thức tạo ra một bước ngoặt lớn. Thông tư này thiết lập cơ sở pháp lý để đưa việc phát triển học liệu mở từ một phong trào tự nguyện trở thành trách nhiệm mang tính tổ chức đối với các trường đại học.
Theo quy định của Thông tư 61, các cơ sở giáo dục đại học bắt buộc phải triển khai những nhiệm vụ cụ thể:
Xây dựng hạ tầng nền tảng học liệu mở kết nối với Cổng thông tin quốc gia.
Củng cố năng lực và hệ thống vận hành của thư viện đại học.
Ban hành các quy chế quản trị, xem xét công nhận việc phát triển tài nguyên mở là sản phẩm nghiên cứu, giảng dạy khoa học chính thức của giảng viên.
TS. Tường Vi đã điểm lại các mục tiêu trọng tâm đến năm 2030 được đề ra trong các văn bản chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Trên 60% các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước tham gia đóng góp học liệu; Trên 40% các ngành đào tạo đại học có tài liệu mở phục vụ giảng dạy; Xây dựng tối thiểu 600 học liệu mở chất lượng cao ở cấp độ quốc gia; Trên 75% đội ngũ giảng viên và người học chủ động khai thác các nguồn tài nguyên này.
Tương lai của Giáo dục Mở: Tránh bẫy hình thức
Mặc dù hệ thống khung pháp lý đã được ban hành, TS. Tường Vi đưa ra cảnh báo rằng "chính sách không tự quyết định kết quả cuối cùng". Thực tế triển khai tại các trường đại học có thể rẽ theo hai kịch bản hoàn toàn khác nhau.
.jpg)
Kịch bản thứ nhất là "thụ động đối phó". Các trường triển khai theo tư duy hoàn thành chỉ tiêu báo cáo: tập trung số hóa, tải tài nguyên lên hệ thống, đếm số lượng học liệu để báo cáo cơ quan quản lý. Kết quả là các chỉ tiêu trên giấy tờ được lấp đầy, các kho lưu trữ phong phú, nhưng phương pháp giảng dạy trên lớp và trải nghiệm học tập của sinh viên vẫn hoàn toàn không thay đổi.
Kịch bản thứ hai là "thực hành chuyển đổi". Đây là kịch bản mà chính sách thực sự đi vào đời sống. Học liệu mở không chỉ được tải lên mà được người dạy chủ động khai thác, điều chỉnh, bản địa hóa và tái chia sẻ. Diễn giả đưa ra ví dụ: Một giảng viên lấy một chương tài liệu mở quốc tế, thay thế các bài tập tình huống bằng bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam, thiết kế thêm hoạt động tương tác, rồi chia sẻ lại bản nâng cấp đó cho đồng nghiệp cùng sử dụng.
Tin mừng là trong Quyết định 1117/QĐ-TTg, các nhà lập quy đã hướng tới việc 'sử dụng' học liệu chứ không dừng lại ở việc đếm số lượng 'tải lên'. Tuy nhiên, câu hỏi cốt lõi là: Điều gì mới thực sự được định nghĩa và công nhận là 'sử dụng' trong thực tiễn giảng dạy?
- TS. Tường Vi
Bốn trụ cột hệ sinh thái và Mô hình Năng lực 3 Tầng
Để giải bài toán đưa chính sách vào cuộc sống, TS. Tường Vi phác thảo mô hình hệ sinh thái tổng thể vận hành dựa trên 4 trụ cột tương hỗ: Chính sách (tạo tính pháp lý), Cơ sở giáo dục (tạo nền tảng vận hành), Con người (phát triển năng lực), và Cộng đồng chuyên môn (tạo không gian chia sẻ).
Đi sâu vào yếu tố con người, TS. Tường Vi chia sẻ kết quả nghiên cứu về Mô hình Năng lực 3 Tầng:
Tầng 1 (Năng lực tiếp cận cơ bản): Người dạy và người học cần có nhận thức về tài nguyên mở, kỹ năng tìm kiếm số, am hiểu luật bản quyền, hệ thống giấy phép mở (Creative Commons) và có năng lực ngoại ngữ cơ bản.
Tầng 2 (Năng lực Chuyển thể và Sáng tạo): Người dạy trở thành người sản xuất. Họ nắm vững kỹ năng áp dụng giấy phép mở cho sản phẩm của mình, biết cách nhào nặn (remix) và biên soạn lại các nguồn tài nguyên.
Tầng 3 (Năng lực bản địa hóa sâu): Đây là mức độ năng lực phức tạp nhất. TS. Tường Vi phân tích: "Dịch thuật đơn thuần chỉ thay đổi về mặt ngôn ngữ, nhưng Bản địa hóa (Localization) mới là thứ thay đổi mức độ phù hợp và tạo ra giá trị thực tiễn cho người học".
Phân tích rõ hơn, diễn giả dẫn chứng: Một video bài giảng về Kinh tế học từ Mỹ nếu đưa về Việt Nam không thể chỉ dừng ở dịch phụ đề, mà phải thay thế các ví dụ bằng hệ thống thể chế, chính sách và bối cảnh kinh tế thực tế của Việt Nam.
Dù thừa nhận Trí tuệ nhân tạo (AI) giúp tăng tốc độ dịch thuật, TS. Tường Vi khẳng định AI hoàn toàn không thể thay thế chuyên môn sâu, sự am hiểu văn hóa và tư duy sư phạm của người thầy. Mối quan hệ ở đây phải là sự tương tác hai chiều: tiếp thu tri thức toàn cầu, bản địa hóa phục vụ người học trong nước, và sáng tạo giá trị mới để chia sẻ ngược lại với quốc tế.
Vai trò của Lãnh đạo đại học và Mạng lưới Cộng đồng
Chuyển sang trụ cột nhà trường, bài tham luận chỉ ra "điểm nghẽn" lớn: Dù Thông tư 61 đã mở ra hành hành lang cho phép công nhận tài nguyên mở là sản phẩm khoa học, nhưng quy định này mới dừng ở mức khuyến khích. Do đó, tầm nhìn của ban lãnh đạo các trường đại học đóng vai trò quyết định.

TS. Tường Vi gợi ý các công cụ quản trị cụ thể cho lãnh đạo nhà trường:
Quy đổi công sức biên soạn, bản địa hóa học liệu mở vào định mức giờ chuẩn giảng dạy hoặc giờ nghiên cứu khoa học.
Cấp các khoản kinh phí ban đầu (internal grants) cho các nhóm đăng ký phát triển học liệu.
Đưa đóng góp tài nguyên mở vào tiêu chí xét thưởng và nâng ngạch, thăng tiến nghề nghiệp.
Huy động sự tham gia của thư viện đại học và đội ngũ thiết kế bài giảng (instructional designers).
Bên cạnh nỗ lực nội bộ, diễn giả nhấn mạnh các trường đại học không thể đứng tách rời nhau. Việc kết nối vào các cộng đồng như Mạng lưới Go Global Châu Á - Thái Bình Dương, Nhóm Giáo dục Mở Việt Nam, OE Global hay SEAMEO là chìa khóa cung cấp sự hỗ trợ chuyên môn, đồng hành (mentorship) và chia sẻ nguồn lực.
Ưu tiên chiến lược hành động đến năm 2027
Khép lại bài trình bày, TS. Trương Ngọc Tường Vi đề xuất 5 ưu tiên hành động cho các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam giai đoạn đến năm 2027:
Phát triển năng lực theo lộ trình: Xây dựng chương trình bồi dưỡng năng lực rõ ràng cho từng nhóm đối tượng, từ khai thác cơ bản đến kỹ năng biên soạn và bản địa hóa nâng cao.
Thực hiện chính sách công nhận thực chất: Xây dựng cơ chế quy đổi giờ chuẩn và đưa sản phẩm học liệu mở vào hệ thống tiêu chí đánh giá thi đua, thăng tiến học thuật.
Đầu tư cho Tri thức Việt: Tập trung nguồn lực cho công tác bản địa hóa và sáng tạo học liệu mở gốc bằng tiếng Việt và tiếng các dân tộc thiểu số.
Củng cố hạ tầng và quy trình quản trị: Nâng cao năng lực thư viện, hoàn thiện hạ tầng công nghệ và quy trình kiểm định chất lượng học liệu trước khi công bố.
Thúc đẩy liên kết các cộng đồng: Mở rộng hợp tác, tạo không gian cho giảng viên tham gia vào các mạng lưới học tập chéo và trao đổi học thuật quốc tế.
"Chính sách đã mở ra một cánh cửa lớn, và việc chương tiếp theo của giáo dục mở tại Việt Nam diễn ra như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của chính chúng ta từ ngày hôm nay" - TS. Trương Ngọc Tường Vi đúc kết bài phát biểu.