'Ghép tạng ở trẻ em: Thực trạng, thách thức và giải pháp'

Đã kết thúc
Hoàng Bắc, Bùi Tú| 30/10/2026 09:02

Vào lúc 9 giờ 30 phút sáng nay (30/10/2026), Tọa đàm “Ghép tạng ở trẻ em: Thực trạng, thách thức và giải pháp” do Tạp chí Một Thế Giới tổ chức, đã chính thức diễn ra tại TP.HCM.

  • 30/10/2026 10:40 Bác sĩ và Thạc sĩ luật nêu ý kiến về hiến tạng

    Trước câu hỏi của nhà báo Thẩm Hồng Thụy về cách mở rộng nguồn tạng hiến, nhưng vẫn bảo đảm các yêu cầu về đạo đức, xã hội và pháp lý. ThS. Lưu Đức Quang cho rằng, việc sửa đổi quy định theo hướng mở rộng đối tượng hiến tạng ở trẻ em, cần được cân nhắc thận trọng, tránh thay đổi đột ngột từ cấm sang cho phép mà không có lộ trình rõ ràng.

    Theo ông, nên triển khai từng bước, trước hết xem xét mở rộng việc hiến mô vì đây là nhóm ít phức tạp hơn, sau đó mới tính đến các loại mô, bộ phận cơ thể khác, trên cơ sở có đánh giá y khoa để bảo đảm không ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Về độ tuổi, ông đề xuất nếu mở rộng thì nên bắt đầu từ người từ đủ 16 tuổi, thay vì áp dụng với trẻ em dưới độ tuổi này. Ông viện dẫn Công ước quốc tế về quyền trẻ em xác định người dưới 18 tuổi là trẻ em, đồng thời cho rằng pháp luật cần ưu tiên bảo vệ nhóm còn non nớt, dễ bị tổn thương.

    1793332707255_8765640217297794643_g5687154296339286042_69525f871fdc414c44b48675c75b1d9f.jpg
    Tạp chí Một Thế Giới tặng hoa các chuyên gia tham gia buổi toạ đàm. Ảnh: H.B

    Ông Quang cũng đặt vấn đề về tính thống nhất của hệ thống pháp luật khi quy định độ tuổi hiến máu và hiến tạng có những điểm khác biệt cần được giải thích rõ. Theo ông, việc hiến tạng liên quan trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe con người nên không thể chỉ dựa vào ý chí của cá nhân chưa thành niên. Ngay cả khi người hiến từ 16 đến dưới 18 tuổi, ngoài ý kiến của chính người đó, cần có sự tham vấn và đồng thuận của gia đình, không chỉ cha mẹ mà có thể cả ông bà nội ngoại. Ông cho rằng trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, quyết định liên quan đến cơ thể và tính mạng của một đứa trẻ thường gắn với mối quan hệ gia đình rộng hơn. Vì vậy, pháp luật cần đặt ra cơ chế bảo vệ chặt chẽ, không thể áp dụng cách tiếp cận đơn giản hóa đối với một vấn đề hệ trọng như hiến tạng.

    2aobor9444v6qykfcpgoprrwznszfnp9fxtwdcko.jpg
    Nhà báo Lê Thị Anh Nhàn (báo Tiền Phong) đặt câu hỏi với các chuyên gia tại buổi toạ đàm. Ảnh: H.B

    Ở chiều ngược lại, BSCKII Phan Tấn Đức giải thích rằng cần phân biệt rõ giữa hiến tạng khi còn sống và hiến tạng từ người chết não. Việc điều chỉnh độ tuổi đang được bàn đến là đối với người hiến tạng chết não, không phải cho phép trẻ em hiến tạng khi còn sống. Theo ông, ý nghĩa nhân văn của đề xuất là trong trường hợp không may một đứa trẻ qua đời do chết não, cha mẹ có thể cân nhắc hiến những mô, tạng còn sử dụng được để cứu sống hoặc giúp những bệnh nhi khác có cơ hội phát triển bình thường. Đây không phải là việc hạ tuổi để trẻ em trở thành người hiến tạng sống, bởi pháp luật hiện không cho phép lấy tạng từ trẻ em còn sống.

    Tuy nhiên, ông Quang cho rằng cách giải thích trên chưa giải quyết hết những lo ngại về mặt pháp lý. Ông nhấn mạnh cuộc thảo luận cần phân biệt giữa khía cạnh đạo đức và quy định pháp luật: hiến tạng có thể là nghĩa cử nhân văn, nhưng khi đưa vào luật, Nhà nước phải thiết lập những chuẩn mực tối thiểu để bảo vệ trẻ em. Theo ông, không thể chỉ dựa vào ý nghĩa cứu người để bỏ qua nguy cơ có thể phát sinh trong quá trình thực thi. Vấn đề đặt ra là liệu hệ thống pháp luật, y tế và cơ chế giám sát hiện nay đã đủ khả năng bảo đảm quyền lợi của trẻ em, cũng như ngăn ngừa những tình huống bất lợi nếu quy định mới được thông qua hay chưa.

  • 30/10/2026 10:20 Bác sĩ thận trọng khi tiếp nhận tạng từ người hiến còn quá trẻ

    Nhà báo Thẩm Hồng Thụy đặt vấn đề rằng việc tìm kiếm nguồn tạng hiến cho trẻ em vốn khó khăn hơn so với người lớn, bởi không chỉ phụ thuộc vào sự sẵn có của người hiến mà còn phải đáp ứng yêu cầu về độ tuổi và kích thước tạng phù hợp với người nhận.

    Trả lời câu hỏi, BS Vũ Lệ Anh cho biết theo quy định về hiến mô, tạng, người từ đủ 18 tuổi mới được đăng ký hiến tạng. Tuy nhiên, trong thực tế chuyên môn, bác sĩ thường thận trọng khi tiếp nhận tạng từ người hiến còn quá trẻ, bởi họ vẫn còn cả tương lai phía trước. Do đó, nguồn tạng dành cho trẻ em chủ yếu đến từ người hiến trưởng thành, có thể là người thân hiến khi còn sống hoặc người chết não. Tạng từ người lớn có thể phù hợp với những bệnh nhi đã lớn hơn, nhưng với trẻ nhỏ, đặc biệt là nhóm dưới 15 kg, việc tìm được tạng có kích thước tương thích rất khó khăn. Đây là rào cản khiến cơ hội ghép tạng của những bệnh nhi nhỏ tuổi bị hạn chế hơn nhiều.

    2aobor93kor4dcdyh3qlrbnjg8pnu4m7dxcnfpxu.jpg
    Toàn cảnh tại buổi toạ đàm.

    Từ câu chuyện nguồn tạng hiến, nhà báo Thẩm Hồng Thụy tiếp tục hỏi về vai trò của sự đồng thuận giữa người hiến, gia đình và những người thân trong quá trình quyết định hiến tạng. BSCKII Phan Tấn Đức khẳng định đây là yếu tố rất quan trọng. Với người hiến tạng khi còn sống, ngoài sự tự nguyện của người hiến còn cần có sự đồng ý của gia đình, đồng thời phải đáp ứng điều kiện về quan hệ huyết thống nhằm ngăn ngừa tình trạng mua bán tạng. Đối với người chết não, việc hiến tạng cũng cần được gia đình chấp thuận.

    Dẫn lại một trường hợp hiến thận từ người chết não tại Bệnh viện phía bắc, bác sĩ Đức cho biết gia đình người hiến đã rất thấu hiểu khi đồng ý để tạng được chuyển vào miền Nam, trao cơ hội sống cho một bệnh nhân khác. Theo ông, điều cần thay đổi là cách nhìn nhận của cộng đồng về hiến tạng. Thay vì chỉ nghĩ đến việc người thân qua đời phải được giữ nguyên vẹn thân thể, các gia đình có thể nhìn nhận rằng một phần cơ thể của người đã mất vẫn có thể tiếp tục sống trong cơ thể người khác. Khi hiểu được ý nghĩa ấy và đặt mình vào hoàn cảnh của những gia đình đang tuyệt vọng chờ nguồn tạng cho con, mọi người sẽ cảm nhận rõ hơn giá trị của việc hiến tạng và có thể cởi mở hơn với quyết định này.

  • 30/10/2026 10:15 ThS. Luật học Lưu Đức Quang: Lấy ý kiến trẻ em liên quan đến hiến tạng là vi phạm luật

    ThS. Luật học Lưu Đức Quang cho rằng truyền thông về hiến tạng cần thay đổi cách tiếp cận, đặc biệt khi đưa vấn đề này vào giáo dục học đường. Ông dẫn câu chuyện từ chính con mình đang học lớp 6, khi chương trình Giáo dục công dân đề cập đến tình yêu thương con người; thông qua câu chuyện bé Hải An hiến tạng sau khi qua đời. Khi được hỏi về bài học, đứa trẻ tỏ ra sợ hãi, thậm chí phản ứng như thể bị ép buộc. Theo ông, cách truyền tải như vậy chưa phù hợp với tâm lý lứa tuổi và có thể gây tác dụng ngược. Việc giáo dục lòng nhân ái không đồng nghĩa với việc yêu cầu trẻ nhỏ phải suy nghĩ hay đưa ra quan điểm về một vấn đề đặc biệt nhạy cảm như hiến tạng và cái chết.

    2aobor93hrjrthg1pso0bljoxnlecmbdsxb09dvo.jpg
    Cầm cuốn sách giáo khoa trên tay, ThS. Lưu Đức Quang băn khoăn trẻ phải "suy tư" về cái chết và hiến tạng trước khi đủ tuổi trưởng thành để vào đời. Ảnh: H.P.B

    Ông cũng đặt vấn đề về tính pháp lý trong việc lấy ý kiến trẻ em liên quan đến hiến tạng. Theo ông, nếu lấy ý kiến trẻ từ 7 tuổi trở lên về một vấn đề hệ trọng như vậy mà không có sự tham gia, đồng thuận của cha mẹ hoặc người giám hộ thì có thể vi phạm các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự. Ông dẫn quy định về năng lực hành vi dân sự: trẻ từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ những giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày; người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi cũng bị giới hạn đối với một số giao dịch quan trọng. Từ đó, ông đặt câu hỏi: nếu ngay cả những giao dịch liên quan đến tài sản như xe máy còn có những giới hạn nhất định đối với trẻ vị thành niên, thì quyền quyết định liên quan đến chính cơ thể và việc hiến tạng càng cần được cân nhắc thận trọng.

    Theo ông Quang, truyền thông về hiến tạng không thể chỉ tập trung vào việc lan tỏa thông điệp nhân văn mà phải chú ý đến đối tượng tiếp nhận, độ tuổi và phương pháp truyền tải. Đặc biệt, không nên tạo áp lực khiến trẻ em phải "suy tư về cái chết và hiến tạng", khi chưa đủ tuổi trưởng thành để vào đời. Việc giáo dục cần phù hợp với tâm lý lứa tuổi, đồng thời tôn trọng vai trò của cha mẹ và người giám hộ.

    Ông nhấn mạnh đây là vấn đề rất nhạy cảm, cần được thảo luận kỹ lưỡng cả về y tế, đạo đức lẫn pháp luật. Việc lấy ý kiến trẻ em không đơn thuần là hỏi các em có đồng ý hay không, mà phải xem xét mức độ hiểu biết, khả năng nhận thức và sự tham gia của người đại diện hợp pháp. Đây sẽ còn là một thách thức lớn trong quá trình xây dựng sự đồng thuận xã hội đối với hoạt động hiến tạng ở trẻ em.

  • 30/10/2026 10:05 ThS.BS Vũ Lệ Anh nói về công tác vận động hiến tạng

    Nhà báo Thẩm Hồng Thụy cho rằng: Việc vận động hiến tạng, đặc biệt là hiến tạng từ trẻ em, có những trở ngại rất phức tạp do quyết định của gia đình đôi khi không chỉ phụ thuộc vào cha mẹ mà còn chịu ảnh hưởng từ ông bà, họ hàng và những người có tiếng nói trong dòng tộc. Tâm lý e ngại việc hiến tạng, quan niệm văn hóa lâu đời cùng những phản ứng tiêu cực từ người thân khiến nhân viên tư vấn thường chịu nhiều áp lực, thậm chí bị trách móc, xúc phạm khi tiếp cận gia đình người bệnh. Ông đặt vấn đề cần đổi mới cách truyền thông và phương thức tiếp cận để từng bước thay đổi nhận thức cộng đồng, thay vì trông chờ nhân viên tư vấn giải quyết vấn đề trong khoảng thời gian rất ngắn.

    ThS.BS Vũ Lệ Anh, Trưởng khoa Nội Thận, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho rằng thay đổi nhận thức về hiến tạng là một quá trình lâu dài, không thể trông chờ vào nhân viên tư vấn trong thời điểm gia đình vừa mất người thân. Thông thường, họ chỉ có khoảng 1-3 ngày để tiếp cận và trao đổi với gia đình người có tiềm năng hiến tạng. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, rất khó để thay đổi quan điểm của tất cả thành viên, nhất là khi quyết định có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều người trong gia đình, dòng họ. Ngay cả khi vợ hoặc chồng đã đồng ý, ý kiến phản đối từ cha mẹ hay người thân khác cũng có thể khiến việc hiến tạng không thể tiến hành.

    2aobor93ofkcggllv1wuzujvjnpeqkwgrl9mjydm.jpg
    ThS.BS Vũ Lệ Anh. Ảnh: H.B

    Từ kinh nghiệm thực tế, bác sĩ Lệ Anh nhận thấy những trường hợp vận động hiến tạng thành công thường là các gia đình đã có sự thống nhất về quan điểm từ trước. Người thân đã hiểu, chia sẻ và thậm chí chủ động bày tỏ mong muốn hiến tạng khi người bệnh qua đời. Điều đó cho thấy nhân viên tư vấn chỉ đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ quá trình đưa ra quyết định diễn ra thuận lợi hơn, chứ không thể tạo ra sự thay đổi căn bản về nhận thức trong một vài ngày.

    Về giải pháp, bác sĩ đề xuất đưa kiến thức về tình trạng thiếu hụt nguồn tạng và ý nghĩa của việc hiến tạng vào chương trình giáo dục học đường, qua đó hình thành nhận thức và thái độ tích cực từ thế hệ trẻ. Với người trưởng thành, cần phát huy vai trò của báo chí, internet và mạng xã hội để truyền thông thường xuyên, giúp cộng đồng hiểu đúng hơn về hiến tạng. Bà cho rằng văn hóa và tập tục xã hội vốn không bất biến, nhiều quan niệm liên quan đến tang lễ và cách ứng xử sau khi qua đời đã thay đổi theo thời gian. Vì vậy, nhận thức về hiến tạng cũng có thể chuyển biến nếu có sự tham gia kiên trì, đồng bộ của nhiều thành tố trong xã hội.

    Bác sĩ Lệ Anh nhấn mạnh không nên đánh giá hiệu quả của một nhân viên tư vấn chỉ dựa trên việc có vận động thành công một ca hiến tạng cụ thể hay không. Thành công thực sự cần được nhìn nhận trong một quá trình dài hơn, khi nhận thức cộng đồng dần thay đổi và việc hiến tạng trở thành một lựa chọn nhân văn được mỗi cá nhân, gia đình chủ động chia sẻ và tôn trọng.

    2aobor93kmlm1hiicaen6qy4puoitxbupg05xxny.jpg
    Quang cảnh buổi toạ đàm tại TP.HCM.

  • 30/10/2026 10:00 Những khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tạng hiến cho trẻ em

    Tiếp đó, nhà báo Thẩm Hồng Thụy đặt vấn đề về những khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tạng hiến cho trẻ em. Đặc biệt, khi đây là nhóm đối tượng nhạy cảm và việc xác định độ tuổi được hiến tạng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Ông đề nghị BSCKII Phan Tấn Đức phân tích những hệ lụy lâm sàng khi trẻ không có cơ hội được ghép tạng, đồng thời làm rõ khả năng điều trị thay thế và thời gian bệnh nhi có thể chờ đợi nguồn tạng phù hợp.

    Trả lời vấn đề này, BSCKII Phan Tấn Đức nhấn mạnh trẻ em là đối tượng đặc biệt nhạy cảm, do đó những quy định liên quan đến hiến tạng ở nhóm tuổi này cần được cân nhắc thận trọng. Tuy nhiên, từ góc độ chuyên môn, thiếu nguồn tạng hiến có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội sống và chất lượng cuộc sống của nhiều bệnh nhi.

    Đối với trẻ suy thận, ghép thận vẫn là phương pháp điều trị tối ưu giúp các em có cơ hội trở lại cuộc sống gần như bình thường. Những phương pháp thay thế như chạy thận nhân tạo và lọc màng bụng có thể duy trì sự sống nhưng tiềm ẩn nhiều biến chứng khi kéo dài. Bác sĩ dẫn chứng có bệnh nhi bị rối loạn chuyển hóa, tăng canxi dẫn đến vôi hóa mạch máu nghiêm trọng, ảnh hưởng đến khả năng vận động. Sau khi được ghép thận, tình trạng sức khỏe của những bệnh nhi này có thể cải thiện rõ rệt.

    1793329836671_8765640217297794643_g5687154296339286042_3e00fe6d1303e8f96d819b64769e6c5e.jpg
    ThS. Lưu Đức Quang (trái) và Nhà báo Thẩm Hồng Thuỵ. Ảnh: Hồng Quân

    Đối với bệnh nhi suy gan, tình hình nghiêm trọng hơn do hiện chưa có phương pháp điều trị thay thế hiệu quả tương tự chạy thận ở bệnh nhân suy thận. Nếu không được ghép gan kịp thời, trẻ có nguy cơ tử vong. Trong khi đó, ghép gan có một lợi thế là có thể sử dụng một phần gan từ người hiến sống. Với bệnh nhi suy tim, ghép tim cũng là giải pháp quan trọng khi bệnh tiến triển nặng, nhưng nguồn tim hiến rất khan hiếm do không thể lấy một phần tim từ người hiến sống như đối với gan hoặc thận. Thực tế, số ca ghép tim cho trẻ em tại khu vực phía Nam còn rất ít, chủ yếu ở những bệnh nhi lớn, khoảng 9 tuổi trở lên và nặng trên 45 kg, đủ điều kiện tiếp nhận tim từ người hiến trưởng thành.

    Về thời gian chờ ghép, BSCKII Phan Tấn Đức cho biết khả năng duy trì điều trị thay thế ở trẻ suy thận phụ thuộc vào thể trạng và đáp ứng của từng bệnh nhi. Lọc màng bụng có thể duy trì khoảng 5 năm trước khi xuất hiện tình trạng xơ hóa màng bụng, buộc người bệnh chuyển sang phương pháp điều trị khác. Tương tự, chạy thận nhân tạo kéo dài cũng có thể khiến hệ thống mạch máu bị xơ hóa, gây khó khăn cho việc tiếp tục lọc máu và phải can thiệp tạo đường vào mạch máu phù hợp.

    Ngược lại, trẻ suy gan không có nhiều thời gian chờ đợi vì nếu không được ghép, bệnh có thể tiến triển nặng và dẫn đến tử vong trong vòng 1-2 năm. Với bệnh nhi suy tim, khi đã bước vào giai đoạn mất bù, tình trạng có thể diễn tiến nhanh, khiến cơ hội chờ đợi nguồn tạng phù hợp ngày càng thu hẹp.

    Qua những dẫn chứng này, bác sĩ cho rằng tình trạng thiếu tạng hiến không đơn thuần là khó khăn về nguồn lực y tế mà còn trực tiếp quyết định cơ hội sống, khả năng phát triển và tương lai của trẻ mắc bệnh lý suy tạng.

  • 30/10/2026 09:50 Thạc sĩ Luật học Lưu Đức Quang nêu quan điểm pháp lý

    Chuyển sang phần thảo luận, nhà báo Thẩm Hồng Thụy đặt vấn đề với một tình huống thực tế thường gặp trong hoạt động hiến tạng: Người hiến đã đồng ý, nhưng sau khi họ qua đời, gia đình lại không chấp thuận. Ông Thuỵ dẫn lại những trường hợp ghép thận trước đây tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. Trong đó, người bệnh sau ghép có thể duy trì cuộc sống lâu dài nhờ sự hỗ trợ thuốc điều trị từ các đơn vị tài trợ. Qua đó, ông nhấn mạnh ghép tạng không chỉ là câu chuyện tìm được nguồn tạng mà còn đòi hỏi nguồn lực tài chính để bảo đảm người bệnh được điều trị lâu dài. Từ thực tế gia đình có thể thay đổi quyết định dù người hiến đã tự nguyện đăng ký. Ông Thuỵ đặt vấn đề với Thạc sĩ Luật học Lưu Đức Quang (Giảng viên Luật Hiến pháp), về việc pháp luật nên tôn trọng ý nguyện của người hiến, hay trao quyền quyết định cuối cùng cho gia đình.

    Dưới góc độ pháp lý, ThS. Lưu Đức Quang cho rằng, theo Điều 25 - Bộ luật Dân sự, quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, nếu một người từ đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện đăng ký hiến tạng, thì về mặt logic pháp lý, nguyện vọng đó cần được xem là quyết định của chính cá nhân. Tương tự ý chí cuối cùng được thể hiện trong một bản di chúc.

    2aobor93pdvkditbqihjpr7mcshrz2mjvo3fomsg.jpg
    ThS. Lưu Đức Quang tại buổi toạ đàm. Ảnh: Hoàng Bắc

    Tuy nhiên, ông lưu ý việc hiến tạng có đặc thù khác với thừa kế tài sản, bởi vấn đề liên quan trực tiếp đến thân thể con người và chịu sự chi phối của nhiều chuẩn mực xã hội, văn hóa. Hiện pháp luật chưa có quy định cụ thể khẳng định rằng: Đăng ký hiến tạng còn hiệu lực, thì bắt buộc phải được thực hiện, bất kể gia đình có đồng ý hay không. Do đó, dù có cơ sở để lập luận rằng cần tôn trọng ý nguyện của người hiến, việc áp dụng trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc.

    Theo ông Quang, không nên chỉ nhìn nhận đây là một kẽ hở pháp luật mà cần hiểu rằng pháp luật không phải chuẩn mực duy nhất điều chỉnh đời sống xã hội. Trong những tình huống người thân vừa mất, gia đình đang chịu cú sốc tâm lý và đau buồn, việc yêu cầu thực hiện ngay nguyện vọng hiến tạng có thể đặt đội ngũ y tế và cơ quan quản lý vào tình thế rất khó xử.

    Ông cho rằng một trong những lý do khiến vấn đề chưa được quy định rõ có thể xuất phát từ sự thận trọng của cơ quan quản lý trước áp lực trách nhiệm. Bởi về bản chất, hiến tạng trước hết là hành động đạo đức và nhân văn. Khi một cá nhân tự nguyện cam kết hiến tạng, chuẩn mực đạo đức ấy; có thể được xem là đã chuyển hóa thành một cam kết mang ý nghĩa pháp lý đối với chính người đó. Tuy nhiên, để nâng cam kết này thành nghĩa vụ pháp lý có thể thực thi sau khi người hiến qua đời, cần có sự cân nhắc thấu đáo giữa quyền tự quyết của cá nhân, quyền lợi và tâm lý gia đình, cũng như trách nhiệm của đội ngũ thực hiện.

    Từ đó, ông nhấn mạnh đây không chỉ là khó khăn của bác sĩ hay nhân viên vận động hiến tạng mà còn là vấn đề của toàn xã hội. Cần có cách tiếp cận hài hòa giữa việc tôn trọng nguyện vọng hiến tạng đã được xác lập và sự thấu hiểu hoàn cảnh, tâm lý của gia đình người hiến, đồng thời xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng hơn để những người liên quan có thể hành động mà không phải đối mặt với quá nhiều rủi ro và áp lực trách nhiệm.

  • 30/10/2026 09:40 ThS.BS Vũ Lệ Anh trình bày tham luận

    ThS.BS Vũ Lệ Anh - Trưởng khoa Nội Thận, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á TP.HCM - trình bày tại phiên tọa đàm. Bà cho biết Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực ghép tạng. Hiện nay, cả nước thực hiện hơn 1.000 ca ghép mỗi năm và đã làm chủ được hầu hết các kỹ thuật ghép tạng, đặc biệt là ghép thận. Đây là thành tựu đáng ghi nhận nếu xét đến việc Việt Nam mới triển khai ghép tạng từ người hiến khác trong hơn 20 năm qua. Tuy nhiên, dù năng lực chuyên môn đã phát triển, hoạt động ghép tạng vẫn đối mặt với nhiều rào cản, trong đó lớn nhất là tình trạng thiếu nguồn tạng hiến.

    Theo bác sĩ Lệ Anh, mỗi năm Việt Nam có khoảng 8.000 người mắc suy thận giai đoạn cuối và cần điều trị thay thế thận. Đáng chú ý, độ tuổi mắc bệnh ngày càng trẻ, khiến nhu cầu được ghép thận trở nên cấp thiết hơn. Bởi phương pháp này có thể thay đổi đáng kể chất lượng cuộc sống và tương lai của người bệnh. Tuy nhiên, nguồn tạng hiện vẫn chủ yếu đến từ người hiến sống có quan hệ huyết thống hoặc gia đình. Trong khi đó, tạng từ người chết não và người chết do ngừng tuần hoàn còn rất hạn chế. Bác sĩ dẫn thực tế rằng tạng từ người hiến chết não hiện chỉ chiếm khoảng 6% tổng số ca ghép tạng.

    2aobor93oenhgj3fgehhkgc16j8erytpme7zfjko.jpg
    TS.BS Vũ Lệ Anh tại buổi toạ đàm. Ảnh: Hoàng Bắc

    Một trong những nguyên nhân khiến nguồn tạng hiến khan hiếm là quan niệm văn hóa Á Đông, về việc người mất phải được giữ nguyên vẹn thân thể. Vì vậy, dù có những trường hợp người chết não đủ điều kiện hiến tạng, gia đình vẫn không đồng ý. Bên cạnh đó, ngay cả khi một người đã đăng ký hiến tạng và có thẻ hiến tạng, nguyện vọng này đôi khi vẫn không được thực hiện nếu gia đình phản đối. Theo bác sĩ, đây là khoảng trống cần được xem xét trong quy định pháp luật, nhằm làm rõ giá trị pháp lý của nguyện vọng hiến tạng mà một người trưởng thành đã tự nguyện đăng ký.

    Một rào cản khác là hoạt động vận động hiến tạng còn gặp nhiều khó khăn. Nhân viên tư vấn thường phải tiếp cận gia đình người bệnh trong thời điểm họ vừa trải qua mất mát, tâm lý đau buồn. Và, dễ phản ứng trước những đề nghị liên quan đến việc hiến tạng. Khi chưa có cơ chế bảo vệ đầy đủ, những người làm công tác vận động hiến tạng có thể chịu áp lực, thậm chí bị tổn thương, dẫn đến tâm lý e ngại khi tiếp cận các gia đình. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển nguồn tạng hiến.

    1793328779797_8308096677791258042_8308096677791258042_9cbb91c79d95f6fc24f7f7a623804cc3.jpg
    Nhà báo Thẩm Hồng Thuỵ (Tạp chí Một Thế Giới) đặt câu hỏi với các diễn giả tại buổi toạ đàm. Ảnh: Hoàng Bắc

    Từ thực tế trên, bác sĩ Lệ Anh cho rằng cần triển khai đồng thời nhiều giải pháp. Trước hết là tăng cường truyền thông để thay đổi nhận thức cộng đồng, giúp người dân hiểu rằng hiến tạng sau khi qua đời là hành động nhân văn, có thể trao cơ hội sống cho nhiều người khác. Đặc biệt, cần khuyến khích người đủ điều kiện chủ động đăng ký hiến tạng và lan tỏa tinh thần hiến tặng trong gia đình, xã hội.

    Song song đó, cần hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ quyền và nguyện vọng của người đăng ký hiến tạng, đồng thời có cơ chế bảo vệ nhân viên y tế làm công tác tư vấn, vận động hiến tạng. Pháp luật cần làm rõ cách xử lý trong trường hợp người đã tự nguyện đăng ký hiến tạng nhưng gia đình không đồng thuận, tránh để nguyện vọng của người hiến không thể thực hiện vì những vướng mắc chưa được quy định rõ.

    Cuối cùng, một vấn đề không thể bỏ qua là chi phí điều trị sau ghép. Theo bác sĩ Lệ Anh, ghép tạng không kết thúc ở thời điểm phẫu thuật thành công mà người bệnh phải tiếp tục điều trị, sử dụng thuốc chống thải ghép và theo dõi sức khỏe suốt đời. Đặc biệt, những bệnh nhân trẻ tuổi có thể sống thêm nhiều năm sau ghép, đồng nghĩa với chi phí điều trị tích lũy rất lớn. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tài chính phù hợp, bảo đảm người được ghép có khả năng tiếp cận và duy trì điều trị lâu dài. Bởi một ca ghép chỉ thực sự mang lại ý nghĩa khi người nhận không chỉ được cứu sống mà còn có điều kiện duy trì chức năng tạng ghép và chất lượng cuộc sống tốt về sau.

  • 30/10/2026 09:35 BSCKII Phan Tấn Đức nói về nhu cầu ghép tạng hiện nay
    bs đức
    BSCKII Phan Tấn Đức (Trưởng khoa Thận Niệu, Bệnh viện Nhi đồng 2)

    Mở đầu tọa đàm BSCKII Phan Tấn Đức (Trưởng khoa Thận Niệu - Bệnh viện Nhi đồng 2) cho biết, nhu cầu ghép tạng ở trẻ em tại khu vực phía Nam hiện khá lớn, với trung bình khoảng 160 -180 trường hợp cần ghép gan, thận và tim mỗi năm. Trong đó, khoảng 95 trẻ cần ghép gan, 77 trẻ cần ghép thận và 75 trẻ cần ghép tim.

    Tại Bệnh viện Nhi đồng 2, hiện có khoảng 70 bệnh nhi phải điều trị thay thế thận bằng các phương pháp như: chạy thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng. Bệnh viện đã thực hiện 40 ca ghép thận; trong đó, có 37 trường hợp nhận thận từ người hiến sống là cha mẹ, hoặc người thân trong gia đình. Chỉ có 3 trường hợp được ghép từ người hiến chết não. Đối với ghép gan, bệnh viện đã thực hiện 82 ca, nhưng cũng chỉ có 3 trường hợp nhận tạng từ người hiến chết não. Riêng lĩnh vực ghép tim, Bệnh viện Nhi đồng 2 đang xây dựng kế hoạch triển khai trong thời gian tới.

    Ở khu vực phía Bắc, đến năm 2024, Bệnh viện Nhi Trung ương đã thực hiện 62 ca ghép thận cho trẻ em. Trong khi đó, tại phía Nam, Đại học Y Dược TP.HCM đã ghép tim thành công cho 9 bệnh nhi. Tuy nhiên, một thách thức lớn là nguồn tạng phù hợp cho trẻ nhỏ còn hạn chế. Các trường hợp ghép tim chủ yếu được thực hiện ở trẻ từ khoảng 9 tuổi trở lên do khó tìm được quả tim có kích thước phù hợp với những bệnh nhi nhỏ tuổi hơn.

    Theo BSCKII Phan Tấn Đức, năng lực ghép tạng của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Từ khi triển khai ghép thận, cả nước đã thực hiện hơn 10.000 ca ghép tạng, với số lượng tăng dần qua từng năm. Riêng năm 2025, Việt Nam thực hiện khoảng 1.300 ca ghép tại hàng chục trung tâm y tế lớn trên cả nước. Các cơ sở y tế cũng từng bước làm chủ những kỹ thuật phức tạp như ghép thận bất đồng nhóm máu, ghép đa tạng từ người hiến chết não, phẫu thuật nội soi lấy tạng với sự hỗ trợ của robot và ứng dụng các tiến bộ về miễn dịch, tuần hoàn ngoài cơ thể trong ghép tạng trẻ em.

    2aobor93nm6huggxly2jezbhhumk2n0lrfvd1k1g.jpg
    Các đại diện trong lĩnh vực y tế tham gia toạ đàm. Ảnh: Hoàng Bắc

    Ông nhấn mạnh, việc nâng cao năng lực chuyên môn và mở rộng hoạt động ghép tạng tại các bệnh viện phía Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp trẻ mắc bệnh lý suy tạng có thêm cơ hội sống và phát triển. Trong đó, ghép thận vẫn là phương pháp điều trị tối ưu đối với trẻ bị suy thận giai đoạn cuối. So với việc phải chạy thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng kéo dài, trẻ được ghép thận có cơ hội trở lại cuộc sống gần như bình thường, có thể đến trường, trưởng thành, lập gia đình và sinh con.

    Đối với bệnh nhi suy gan, ghép gan nhiều khi là giải pháp quyết định sự sống, bởi nếu không được ghép kịp thời, tình trạng bệnh có thể diễn tiến nặng và dẫn đến tử vong. Trong khi đó, ghép tim ở trẻ em vẫn đối mặt với thách thức về nguồn hiến, đặc biệt là yêu cầu kích thước quả tim phải tương thích với thể trạng người nhận. Đây cũng là những vấn đề cần tiếp tục được giải quyết để nhiều trẻ em mắc bệnh lý suy tạng có cơ hội tiếp cận phương pháp điều trị tiên tiến này.

  • 30/10/2026 09:30 Các chuyên gia có mặt tại Hội trường Một Thế Giới
    Quang cảnh buổi toạ đàm.

    Đúng 9h30, các chuyên gia gồm BSCKII Phan Tấn Đức (Trưởng khoa Thận Niệu, Bệnh viện Nhi đồng 2), ThS.BS Vũ Lệ Anh (Trưởng khoa Nội Thận, Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á TP.HCM) và Thạc sĩ Luật học Lưu Đức Quang (Giảng viên Luật Hiến Pháp, Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM) đã có mặt tại Hội trường, sẵn sàng cho buổi tọa đàm.

Y học

'Ghép tạng ở trẻ em: Thực trạng, thách thức và giải pháp'

Hoàng Bắc, Bùi Tú • 30/10/2026 09:02

Vào lúc 9 giờ 30 phút sáng nay (30/10/2026), Tọa đàm “Ghép tạng ở trẻ em: Thực trạng, thách thức và giải pháp” do Tạp chí Một Thế Giới tổ chức, đã chính thức diễn ra tại TP.HCM.

Toạ đàm tập trung phân tích toàn diện bức tranh y tế nhi khoa thông qua các bài tham luận chuyên sâu và phiên thảo luận đa chiều, giữa giới y khoa, chuyên gia pháp lí cùng các nhà quản lí.

BSCKII Phan Tấn Đức, Trưởng khoa Thận Niệu - Bệnh viện Nhi đồng 2, đã tham luận tổng quan về những tiến bộ y khoa nổi bật của Việt Nam trong lĩnh vực ghép tạng trẻ em. Báo cáo tập trung làm rõ năng lực làm chủ các kĩ thuật phức tạp của đội ngũ y bác sĩ trong nước. Từ ghép gan từ người cho sống, ghép thận nhi khoa đến phẫu thuật nội soi lấy tạng; kiểm soát các thách thức về tuần hoàn ngoài cơ thể, cũng như đáp ứng miễn dịch ở trẻ nhỏ. Bên cạnh những cột mốc thành tựu, tham luận cũng đưa ra các con số thống kê thực tế về tỷ lệ thành công và bức tranh lâm sàng của hàng dài bệnh nhi, đang đối mặt với nguy cơ tử vong trong lúc chờ đợi tạng ghép.

Tiếp nối chương trình, ThS.BS Vũ Lệ Anh, Trưởng khoa Nội Thận - Bệnh viện Đa khoa Xuyên Á TP.HCM, đi sâu phân tích những rào cản lâm sàng và hậu phẫu trong tham luận về các thách thức y tế hiện nay. Chuyên gia bóc tách bài toán bất tương xứng kích thước khi ghép tạng người lớn cho trẻ nhỏ, đòi hỏi độ chuẩn xác tuyệt đối trong vi phẫu thuật mạch máu, cùng với quy trình quản lí liệu pháp ức chế miễn dịch lâu dài.

Những rủi ro về độc tính trên thận, nguy cơ nhiễm trùng và phương án theo dõi các chỉ số phát triển thể chất, mốc dậy thì; cũng như tâm lí học đường của trẻ sau ghép được làm rõ, nhằm tìm kiếm quy trình chăm sóc hậu phẫu tối ưu nhất.

Ở góc độ thể chế và xã hội, Thạc sĩ Luật học Lưu Đức Quang, Giảng viên Luật Hiến Pháp - Đại học Kinh tế - Luật (ĐHQG TP.HCM), cùng đại diện cơ quan quản lí mổ xẻ những vướng mắc trong hành hành lang pháp lí và đạo đức y khoa. Các nội dung tranh luận chính bao gồm bất cập xung quanh quy định về độ tuổi hiến tạng, tiêu chuẩn xác định chết não và quy trình pháp lí liên quan đến sự đồng thuận của gia đình người hiến, nơi thầy thuốc thường phải cân bằng giữa quy định pháp luật và nguyện vọng của thân nhân.

Ở phiên thảo luận đã đi sâu giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn tạng hiến từ người chết não. Dưới góc độ lâm sàng, các bác sĩ phân tích những hệ lụy khắc nghiệt mà bệnh nhi phải chịu đựng trong thời gian mòn mỏi chờ đợi tạng ghép, nơi mỗi ngày trôi qua đều là một cuộc đua sinh tử.

Ở nhóm vấn đề chuyên môn kĩ thuật và chăm sóc hậu phẫu, phiên thảo luận xoay quanh những đặc thù giải phẫu và sinh lí phức tạp ở trẻ nhở, chẳng hạn như các thách thức vi phẫu thuật mạch máu khi ghép tạng người lớn cho trẻ sơ sinh hoặc nhi đồng, cùng giải pháp khắc phục tình trạng bất tương xứng kích thước tạng ghép.

Đồng thời, những mốc phát triển thể chất về chiều cao, độ tuổi dậy thì cùng phương án hỗ trợ tâm lí để giúp trẻ hậu phẫu hòa nhập học đường bình thường được các bác sĩ đưa ra khuyến cáo chi tiết.

Bài toán gánh nặng tài chính đối với gia đình bệnh nhi tiếp tục là nội dung thảo luận quan trọng. Các diễn giả công khai bức tranh chi phí điều trị xuyên suốt ba giai đoạn trước, trong và sau phẫu thuật, đồng thời đánh giá sát thực tỷ lệ chi trả hiện nay của Bảo hiểm Y tế...

Các chuyên gia cũng mổ xẻ các rào cản từ quy định tiêu chuẩn xác định chết não và giới hạn độ tuổi hiến tạng khiến nhiều cơ hội hiến tạng bị bỏ lỡ. Đặc biệt, các diễn giả phân tích sâu sắc những thách thức đạo đức mà đội ngũ y bác sĩ phải đối mặt khi xử lí quy trình pháp lí về sự đồng thuận của gia đình người hiến, nơi thầy thuốc buộc phải tìm điểm cân bằng mỏng manh giữa quy định pháp luật và nguyện vọng của thân nhân.

Nổi bật
      Mới nhất
      'Ghép tạng ở trẻ em: Thực trạng, thách thức và giải pháp'
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO