Giải mã bí ẩn cá bông lau: Từ gen, di cư đến kì tích sinh sản nhân tạo
Thành công của Đại học Cần Thơ về sinh sản nhân tạo cá bông lau, mở ra chương mới cho việc bảo tồn loài cá quý và phát triển thủy sản bền vững.
Bí ẩn nguồn gen và hành trình di cư xuyên biên giới
Ông Lý Văn Bon, Kĩ sư thuỷ sản, người am hiểu khá tường tận nhiều loài cá trên sông Cửu Long, cho biết: “Thông tin từ các nghiên cứu chuyên sâu của các nhà khoa học Thủy sản đã mang lại một phát hiện chấn động: Cá bông lau, cá dứa và cá tra bần tuy phân bố ở các phân vùng môi trường khác nhau nhưng lại sở hữu chung một nguồn gen di truyền. Do chất lượng thịt của cả ba loài đều ngọt, thơm tương đồng nhau, thương lái và người tiêu dùng trên thị trường thường xuyên có sự nhầm lẫn. Cá bông lau có thân hình dài, ốm hơn so với các loài cá da trơn khác. Đặc điểm nhận dạng rõ nét nhất là một lằn sọc ngang chạy dọc chính giữa thân”.

Bên cạnh gen di truyền, tập tính di cư sinh sản của cá bông lau là một chương thiên nhiên đầy kì vĩ. Đây là loài cá di cư xuyên quốc gia. Bản năng định vị thôi thúc cá bông lau mẹ ngược dòng hàng trăm cây số lên tận thượng nguồn sông Mê Kông để đẻ trứng. Bãi đẻ tự nhiên của chúng được ghi nhận tại khu vực giáp ranh biên giới Campuchia - Lào, đặc biệt là vùng thác Khone Phapheng. Nơi đây có dòng chảy cực mạnh, nhiều bãi cát, khe đá và vực sâu, tạo điều kiện hoàn hảo cho việc duy trì nòi giống. Sau khi cá mẹ đẻ trứng ở các vùng nước xoáy, ngã ba sông lớn hoặc sau đuôi các cồn, trứng và cá con sẽ theo dòng nước trôi dạt hạ nguồn. Chúng xuôi về vùng duyên hải ven biển như Trà Vinh để sinh trưởng. Tại đây, chúng ăn trái cây rụng, thức ăn trôi nổi ven sông và tích lũy dinh dưỡng. Khi trưởng thành, cá bông lau lại thực hiện cuộc hành trình ngược dòng đầy gian khổ trở về thượng nguồn để tiếp tục chu kỳ sinh sản mới.
Bước ngoặt công nghệ: Sinh sản nhân tạo thành công
Chính vì vòng đời di cư phức tạp, nguồn con giống cá bông lau từ trước đến nay hoàn toàn phụ thuộc vào đánh bắt tự nhiên. Một số ít hộ dân vùng ven biển thử nghiệm nuôi thương phẩm nhưng luôn gặp khó khăn do nguồn giống bấp bênh. Trước thực trạng đó, việc chủ động công nghệ sinh sản nhân tạo trở thành mục tiêu cấp bách của ngành thủy sản nhằm bảo vệ nguồn gen và phát triển kinh tế.

Dự án hợp tác quốc tế mang tên "Đa dạng hóa loài thủy sản nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) qua chọn lọc loài cá da trơn nước lợ: Cách tiếp cận đa chiều trong phát triển bền vững" (DIVERSAQUA). Dự án do Viện Hàn lâm về Nghiên cứu và Giáo dục sau đại học và Ủy ban Hợp tác Quốc tế (ARES-CCI) của Vương quốc Bỉ tài trợ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Đại học Namur, Đại học Liège (phía Bỉ) và Đại học Cần Thơ do GS.TS. Nguyễn Thanh Phương làm chủ nhiệm đã mang lại quả ngọt sau hơn hai năm ròng rã nghiên cứu.
GS.TS Nguyễn Thanh Phương, Giảng viên cao cấp Trường Thuỷ sản, Đại học Cần Thơ, cho biết: “Nhóm các nhà khoa học thuộc Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ đã thuần dưỡng và nuôi vỗ thành công đàn cá bông lau bố mẹ đạt độ thành thục ngay trong hệ thống bể tuần hoàn hiện đại”. Khác với môi trường tự nhiên đòi hỏi dòng chảy xiết và vực sâu của thác ghềnh, các chuyên gia đã tối ưu hóa điều kiện môi trường nhân tạo, kết hợp sử dụng các loại kích dục tố chuyên dụng trong nuôi trồng thủy sản để kích thích cá bố mẹ sinh sản.
Kết quả vượt mong đợi khi trứng cá thụ tinh và nở thành cá bột khỏe mạnh. Trải qua quy trình ương nuôi nghiêm ngặt trên bể, cá bột đã phát triển thành công qua giai đoạn cá hương và cá giống. Lần đầu tiên tại Việt Nam, quy trình sản xuất giống cá bông lau được làm chủ hoàn toàn trong phòng thí nghiệm, phá vỡ thế độc quyền của tự nhiên và mở ra cơ hội chủ động nguồn con giống chất lượng cao.
Khác biệt hình thái và triển vọng kinh tế xanh

Sự xuất hiện của cá bông lau nuôi nhân tạo cũng đặt ra những bài toán khoa học thú vị về mặt hình thái học. Theo phân tích thực địa, cá bông lau nuôi công nghiệp bằng thức ăn chế biến sẽ có chu kỳ sinh trưởng ngắn hơn. Chúng thường được thu hoạch khi chưa đạt đến độ dài tối đa của tuổi trưởng sinh tự nhiên. Do đó, hình dáng cá nuôi có phần bầu bĩnh, tròn trịa hơn so với cá đánh bắt tự nhiên vốn có thân hình dài và ốm do phải liên tục bơi ngược dòng di cư. Tuy nhiên, việc làm chủ quy trình dinh dưỡng và môi trường nuôi sẽ giúp đảm bảo chất lượng thịt cá nuôi không hề thua kém cá tự nhiên.
Thành công từ dự án DIVERSAQUA không dừng lại ở ý nghĩa bảo tồn một loài sinh vật quý hiếm. Trong bối cảnh ĐBSCL đang phải đối mặt với những thách thức khốc liệt của biến đổi khí hậu và hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội đồng, việc tìm kiếm các đối tượng nuôi thích ứng tốt là sinh kế sống còn của người nông dân. Cá bông lau, với đặc tính sinh học của một loài cá da trơn nước lợ, chính là ứng viên hoàn hảo có khả năng thích nghi cao với điều kiện nhiễm mặn.
Việc đa dạng hóa đối tượng nuôi bằng cá bông lau giúp giảm bớt áp lực lên con cá tra truyền thống, tạo ra một phân khúc sản phẩm thủy sản cao cấp mới. Với trọng lượng thương phẩm trung bình đạt khoảng 2kg, cá bông lau nuôi không chỉ phục vụ thị trường nội địa với giá trị thương mại cao mà còn mở ra tiềm năng xuất khẩu to lớn đến các thị trường quốc tế khắt khe.
.jpg)
Theo GS.TS. Nguyễn Thanh Phương: Hiện tại, Đại học Cần Thơ đang tiếp tục đẩy mạnh các nghiên cứu chuyên sâu nhằm hoàn thiện quy trình kĩ thuật ương nuôi cá giống và xây dựng mô hình nuôi thương phẩm tối ưu. Những tri thức khoa học tiên tiến kết hợp với kinh nghiệm thực địa của những người đi trước sẽ sớm được chuyển giao, đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm bước thẳng vào thực tiễn sản xuất".
Kì tích nhân giống nhân tạo cá bông lau chính là minh chứng cho sức mạnh của khoa học công nghệ, vừa gìn giữ báu vật của dòng Mê Kông, vừa mở ra sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân miền Tây trước những làn sóng biến đổi của môi trường.