Giáo dục mở: Từ chính sách đến chiến lược chuyển đổi của các trường
Giáo dục mở chỉ có thể phát triển bền vững khi vượt ra khỏi những dự án học liệu riêng lẻ để trở thành một định hướng trong quản trị, đào tạo và nghiên cứu của các trường học.
Tại Việt Nam, những chính sách mới về tài nguyên giáo dục mở, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tạo cơ sở cho quá trình này. Thách thức tiếp theo là chuyển hóa định hướng thành chiến lược tổ chức, cơ chế phối hợp và nguồn lực đủ mạnh để duy trì thay đổi lâu dài.
.jpg)
Từ định hướng quốc gia về giáo dục mở đến trách nhiệm của từng cơ sở đào tạo
Trong quá trình phát triển giáo dục mở, chính sách đóng vai trò tạo hành lang pháp lí và xác lập mục tiêu chung. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế phụ thuộc nhiều vào cách từng cơ sở giáo dục chuyển những định hướng đó thành kế hoạch hành động, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Tại Việt Nam, Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 25/9/2023 của Thủ tướng Chính phủ đã đặt nền tảng cho chương trình xây dựng mô hình nguồn tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học. Chương trình hướng tới phát triển, chia sẻ, khai thác và sử dụng học liệu mở, đồng thời đặt ra các mục tiêu theo từng giai đoạn nhằm mở rộng sự tham gia của các cơ sở đào tạo.
Tiếp đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác lập định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời và ứng dụng AI có kiểm soát.
Những định hướng này cho thấy giáo dục mở không nên được xem như một nhiệm vụ công nghệ tách biệt, mà cần gắn với quá trình đổi mới hoạt động của toàn bộ hệ thống giáo dục đại học.
Ở cấp trường, điều đó đòi hỏi lãnh đạo nhà trường xác định rõ vai trò của tài nguyên giáo dục mở trong chiến lược phát triển. Nếu OER chỉ được giao cho một thư viện hoặc một đơn vị công nghệ thực hiện, hoạt động có thể dừng lại ở việc xây dựng kho tài liệu mà chưa tạo ra thay đổi đáng kể trong đào tạo và nghiên cứu.
Một chiến lược hiệu quả cần có sự phối hợp giữa ban giám hiệu, khoa chuyên môn, giảng viên, thư viện, trung tâm công nghệ thông tin và các bộ phận phụ trách pháp lí. Mỗi đơn vị cần được giao trách nhiệm cụ thể, từ phát triển học liệu, xác định giấy phép sử dụng đến kiểm định chất lượng, vận hành nền tảng và đánh giá hiệu quả khai thác.
Cùng với đó, các trường cần xây dựng kế hoạch tài chính dài hạn. Phát triển giáo trình mở đòi hỏi thời gian của giảng viên, chuyên môn biên tập, số hóa, chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật nội dung và duy trì hệ thống. Nếu chỉ dựa vào các dự án ngắn hạn hoặc sự đóng góp tự nguyện, nguồn tài nguyên có thể nhanh chóng lỗi thời khi kinh phí và nhân lực không còn được bảo đảm.
Bài viết “Khi AI làm tri thức trở nên dồi dào: giáo dục mở, công bằng tri thức và cơ hội của Việt Nam” của TS. Trần Văn Tùng và PGS.TS. Đỗ Văn Hùng gợi mở rằng giáo dục mở cần được nhìn nhận như một cấu phần của hạ tầng tri thức quốc gia. Từ góc độ quản trị, điều này đặt ra yêu cầu đưa OER vào kế hoạch phát triển học thuật và chuyển đổi số, thay vì coi đây là một nhiệm vụ bổ sung bên cạnh những hoạt động cốt lõi của nhà trường.
Các trường cần xây dựng cơ chế phát triển bền vững
Một trong những trở ngại lớn đối với giáo dục mở là khoảng cách giữa chủ trương và thực hành. Ngay cả khi có nền tảng công nghệ và chính sách hỗ trợ, giảng viên vẫn cần thời gian, kĩ năng và động lực để xây dựng, điều chỉnh và chia sẻ học liệu. Các trường cũng phải giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền tác giả, trách nhiệm chuyên môn và cơ chế ghi nhận đóng góp.
Vì vậy, việc thay đổi không chỉ là ban hành quy định, mà còn là tạo ra môi trường để các thành viên hiểu lợi ích, tham gia thiết kế và duy trì cách làm mới. Nhà trường có thể bắt đầu bằng những lĩnh vực có nhu cầu học liệu lớn, lựa chọn nhóm giảng viên tiên phong, thử nghiệm quy trình chia sẻ và đánh giá kết quả trước khi mở rộng. Cách tiếp cận theo từng giai đoạn giúp phát hiện sớm khó khăn, đồng thời tạo ra những mô hình thực tiễn để các đơn vị khác học hỏi.
Cơ chế ghi nhận cũng cần được chú trọng. Việc biên soạn giáo trình mở, dịch thuật, chuẩn hóa tài nguyên và cập nhật nội dung đều là những đóng góp chuyên môn cần thời gian. Nếu các hoạt động này không được tính đến trong đánh giá công việc, thi đua hoặc phát triển nghề nghiệp, giảng viên có thể thiếu động lực để tham gia lâu dài. Ngược lại, khi đóng góp được ghi nhận rõ ràng, chia sẻ tri thức có thể dần trở thành một phần của văn hóa học thuật.
Trong lúc AI phát triển nhanh, quản trị giáo dục mở còn cần những nguyên tắc rõ ràng về sử dụng công nghệ. Các trường cần xác định trách nhiệm khi AI tham gia tạo lập hoặc chỉnh sửa học liệu, quy trình kiểm chứng nội dung, yêu cầu minh bạch và cách bảo vệ dữ liệu. Công nghệ có thể giúp giảm thời gian sản xuất tài nguyên, nhưng không thể thay thế trách nhiệm chuyên môn của giảng viên và cơ sở đào tạo.
Thông tư số 61/2026/TT-BGDĐT, có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, bổ sung cơ sở pháp lí trực tiếp cho việc khai thác, sử dụng OER trong giáo dục đại học. Việc triển khai văn bản này cần được gắn với hướng dẫn nội bộ, quy trình thẩm định và cơ chế phối hợp giữa các đơn vị để các yêu cầu pháp lí trở thành thực hành thường xuyên.
Cuối cùng, các trường cần đánh giá thành công bằng nhiều tiêu chí thay vì chỉ đếm số tài liệu đã đưa lên mạng. Mức độ sử dụng học liệu trong chương trình đào tạo, số tài nguyên được cập nhật, khả năng tái sử dụng giữa các đơn vị, chất lượng chuyên môn và mức độ tham gia của giảng viên đều là những chỉ dấu cần xem xét. Việc đánh giá định kì sẽ giúp lãnh đạo nhà trường nhận diện điểm nghẽn và điều chỉnh chiến lược theo nhu cầu thực tế.
Giáo dục mở vì thế không chỉ là câu chuyện của tài liệu hay nền tảng số, mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị và khả năng đổi mới của các trường đại học. Khi chính sách được chuyển hóa thành trách nhiệm rõ ràng, nguồn lực ổn định và văn hóa chia sẻ tri thức, giáo dục mở mới có thể phát triển bền vững, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường năng lực sáng tạo của Việt Nam trong kỉ nguyên AI.
Hội thảo Giáo dục mở châu Á – Thái Bình Dương 2026 (OpenAP 2026) với chủ đề “Open Futures: Empowering Fair and Inclusive Higher Education in the Asia-Pacific” (Tương lai mở: Thúc đẩy giáo dục đại học công bằng và bao trùm tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương) do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, phối hợp cùng Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), Tạp chí Một Thế Giới và Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) đồng tổ chức vào ngày 23/10/2026 tại Hà Nội.
Đây là diễn đàn kết nối nghiên cứu, chính sách và thực hành, đặt giáo dục mở và OER bên cạnh AI có trách nhiệm, đổi mới số và chuyển đổi thể chế; qua đó tạo thêm không gian để các vấn đề của Việt Nam được đặt vào đối thoại khu vực và để kinh nghiệm từ Việt Nam tham gia mạng lưới tri thức quốc tế. Chương trình chuyên môn cũng được cấu trúc quanh ba nhóm vấn đề: OER và hạ tầng tiếp cận tri thức; sư phạm mở và tham gia bao trùm; AI có trách nhiệm, chính sách và chuyển đổi thể chế.
.jpg)

