Cuộc đời nhà khoa học

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ: (Kỳ cuối) - Tạc một tấm lòng vào lịch sử Y học dân tộc

Nam Phong •

"Việc học là suốt cả cuộc đời" – triết lí sống giản dị của GS.BS Đặng Vũ Hỷ không chỉ nâng bước các thế hệ con cháu thành tài mà còn thắp sáng ngọn lửa y đức cho hàng vạn học trò. Từ trạm quân y gian khổ giữa kháng chiến đến Viện Da liễu Quốc gia, cuộc đời ông là một minh chứng trọn vẹn cho tinh thần phụng sự con người không ngơi nghỉ.

giáo sư đặng vũ hỷ

Điều làm nên tầm vóc bất tử của một danh y không chỉ dừng lại ở những công trình khoa học, mà chính là nhân cách và nếp nhà mà ông trao lại cho đời. Ở Kỳ cuối loạt bài về GS.BS Đặng Vũ Hỷ (1910 – 1972), Tạp chí điện tử Một Thế Giới xin đưa độc giả đến với những trang tư liệu chưa từng nhạt màu thời gian: Bài học đào tạo y sĩ giữa rừng sâu, tinh thần kiên trì học tập ở tuổi 50 và mạch nguồn trí thức truyền đời của một gia đình khoa bảng đất Hành Thiện.

Bản lĩnh tổ chức giữa chiến tranh và tầm nhìn kiến tạo nền Y học cộng đồng

Nếu như những chặng đường đầu đời ghi dấu chân của một trí thức Tây học đỉnh cao gạt bỏ vinh hoa đô thành để đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, thì hành trình dấn thân trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp lại chứng minh tài năng quản lý và bản lĩnh tổ chức y tế xuất sắc của GS.BS Đặng Vũ Hỷ.

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ (1910-1972)
Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (1910-1972). Ảnh tư liệu

Tốt nghiệp Bác sĩ Y khoa tại Pháp năm 1937 chuyên ngành Da liễu, ông vốn chỉ quen với công tác nghiên cứu và điều trị lâm sàng. Thế nhưng, đầu năm 1947, giữa bầu không khí khốc liệt và rối ren của những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, ông được phân công phụ trách Trạm Quân y Cổ Lễ tại mặt trận Hà Nam Ninh. Khi đứng trước vận mệnh gian nguy của đất nước, tài chỉ huy và tư duy tổ chức trạm quân y phục vụ bộ đội lẫn nhân dân của ông đã được phát huy đến mức tối đa. Trong tình trạng hiểm nguy rình rập và thiếu thốn đủ mọi thứ từ thuốc men, băng gạc đến lương thực, ông đã dũng cảm chèo lái, vượt qua muôn vàn khó khăn để bảo vệ sinh mạng cho hàng nghìn chiến sĩ và đồng bào.

Năm 1948, khi được chuyển sang mảng Dân y đảm nhiệm vai trò Trưởng ty Y tế Ninh Bình, và sau đó trở thành cán bộ giảng dạy Trường Y sĩ Liên khu III-IV tại Thanh Hóa vào năm 1950 (chuyên giảng dạy nội khoa), GS Đặng Vũ Hỷ đã đặt những viên gạch đầu tiên cho công tác đào tạo nhân lực y tế cách mạng. Trường Y sĩ Thanh Hóa bấy giờ chính là "cái nôi" đào tạo cán bộ y tế dân y cho toàn bộ vùng giải phóng Bắc Bộ. Những học sinh tốt nghiệp dưới sự dạy dỗ tận tình của ông về sau đã trở thành các cán bộ lãnh đạo dân y chủ chốt tại khắp các tỉnh trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ và những ngày hòa bình xây dựng lại đất nước.

giáo sư đặng vũ hỷ
GS. Đặng Vũ Hỷ (hàng ngồi, thứ 3 từ trái sang) tại lễ trao tặng Huân chương Kháng chiến cho cán bộ y tế (1956).

Trở về Hà Nội sau khi hòa bình lập lại (1954), do những thành tích xuất sắc trong giảng dạy, biên soạn sách giáo khoa và sáng kiến khoa học, ông được Nhà nước phong tặng học hàm Giáo sư trong đợt đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y Hà Nội kiêm Chủ nhiệm khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai, ông không dừng lại ở việc giảng dạy lý thuyết thuần túy. GS Đặng Vũ Hỷ đã kiên trì nâng cao chất lượng chuyên môn, đóng góp công sức lớn để khoa Da liễu phát triển nhanh chóng và được Chính phủ nâng cấp thành Viện Da liễu Quốc gia (được thành lập rất sớm, cùng thời điểm với Viện Tai Mũi Họng).

GS Đặng Vũ Hỷ và các BS, GS nước ngoài và anh chị em trong khoa Da liễu, Bệnh viện Bạch Mai.
GS Đặng Vũ Hỷ và các BS, GS nước ngoài và anh chị em trong khoa Da liễu, Bệnh viện Bạch Mai.

Ông chính là người đặt nền móng mang tính chiến lược cho ngành Da liễu Việt Nam: Xây dựng hệ thống mạng lưới phòng chống bệnh ngoài da và bệnh phong rộng khắp miền Bắc, đưa y học lâm sàng rời xa các phòng khám sang trọng để đi sâu vào đời sống nông thôn, bảo vệ sức khỏe cho hàng triệu nhân dân lao động.

Phương pháp sư phạm lâm sàng và ngọn lửa Y đức truyền đời cho các học trò

Trong ký ức của các thế hệ sinh viên Y khoa thập niên 1950 - 1960, GS.BS Đặng Vũ Hỷ không chỉ là một nhà khoa học uyên bác mà còn là một người thầy có tài sư phạm thiên bẩm và phong cách vô cùng lôi cuốn.

giao-su-dang-vu-hy-kham-benh-tai-trai-phong(1).png
Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, các đồng nghiệp và chuyên gia nước ngoài thăm, khám bệnh tại trại phong. Ảnh chụp tư liệu

Theo GS-VS Phạm Song (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế) – sinh viên Y khoa khóa 1952-1958 (khóa 52, khóa cuối cùng khai giảng và học tập trong rừng Chiêm Hóa, Tuyên Quang), thời bấy giờ sinh viên trẻ thường thích đi theo các ngành Ngoại khoa hay Nội khoa vì tính chất kịch tính và chiều sâu bệnh lý, trong khi chuyên ngành Da liễu bị coi là không mấy hấp dẫn. Thế nhưng, bằng dáng người cao to, nụ cười hóm hỉnh có duyên, giọng nói trầm ấm từ tốn cùng tài liên hệ thực tế tài tình, các giờ giảng lâm sàng của GS Hỷ luôn thu hút sự thích thú đặc biệt.

Ông dạy sinh viên cách trực tiếp thăm khám trên người bệnh, quan sát tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ nhất trên da – những chi tiết mà nếu không có kiến thức uyên thâm và kinh nghiệm lâm sàng phong phú thì người thầy thuốc rất dễ bỏ qua. Triết lý sư phạm cốt lõi mà ông để lại trong tâm hồn các học trò lúc còn rất trẻ mới bước vào ngành Y chỉ gói gọn trong những phẩm chất: "Tỉ mỉ, từ tốn, ân cần, tôn trọng bệnh nhân".

Không chỉ giảng dạy đại trà trên giảng đường, GS Đặng Vũ Hỷ còn nổi tiếng với phương pháp đào tạo kèm cặp 1-1 vô cùng chu đáo và nghiêm cẩn. PGS-TSKH Phan Sĩ An (Chủ tịch Hội Y học hạt nhân Việt Nam, nguyên Trưởng khoa YHHN & UB Bệnh viện Bạch Mai) từng bồi hồi nhớ lại chặng đường năm 1963. Khi đó, lớp sinh viên y khoa sắp tốt nghiệp rộ lên thông tin cần tìm người đi học phẫu thuật chỉnh hình bệnh phong cho trại phong Quỳnh Lập (Nghệ An). Trong bối cảnh xã hội và ngành y lúc ấy còn rất sợ lây nhiễm bệnh phong, trong khi bạn bè đều e ngại gian khổ, sinh viên Phan Sĩ An đã tự nguyện xung phong đáp ứng yêu cầu của cấp trên.

giáo sư phạm song
Cố Giáo sư Phạm Song

“

Tưởng niệm thầy Hỷ và những thầy cùng thế hệ đầu tiên là để tự dặn mình làm thế nào cho xứng đáng với truyền thống của ngành, nói rộng ra là của dân tộc... Cơ chế BHYT sẽ giúp cán bộ y tế thắp sáng tính nhân văn cốt lõi nghề nghiệp của chúng ta trên nền cơ bản nhất là lòng yêu nước, yêu con người và yêu bệnh nhân.

- GS. VS. Phạm Song (Nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế)

Ngay lập tức, sinh viên Phan Sĩ An được giới thiệu về gặp GS Đặng Vũ Hỷ – Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu Đại học Y Dược Hà Nội kiêm Chủ nhiệm khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai. Một kế hoạch học tập gấp rút được GS Hỷ trực tiếp vạch ra: Vừa học phẫu thuật chỉnh hình tại khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Việt Đức với BS Đặng Kim Châu, BS Nguyễn Quang Long, vừa học chuyên khoa Da liễu tại Bệnh viện Bạch Mai.

Suốt thời gian học tập sau đó, vì năm đó không có lớp chuyên khoa nào khác, GS Hỷ đã dành sự ưu ái đặc biệt khi kèm cặp trực tiếp một mình người học trò trẻ. Hằng ngày, GS Hỷ tỉ mỉ dắt học trò đi thăm bệnh tại từng buồng, tham dự các buổi hội chẩn ở phòng khám, nghe thuyết trình chuyên môn, cùng xuống các cơ sở và làm việc tại các phòng la-bô của khoa.

so-ghi-chep-cua-giao-su-dang-vu-hy(2).png
Bài giảng được GS Đặng Vũ Hỷ đọc cho vợ mình là bà Phạm Thị Thức ghi chép lại dùng làm tài liệu học tập cho học viên Trường Y sĩ Liên khu III-IV.

Chính từ ngọn lửa y đức và sự tận tụy tỏa ra từ GS Đặng Vũ Hỷ, các thế hệ học trò kế cận như BS Trần Hữu Ngoạn, TS Nguyễn Sỹ Hóa... đã nối nghiệp thầy, lăn lộn trọn đời để mang lại cuộc sống bình yên, phục hồi chức năng và tái nhập cộng đồng cho hàng vạn bệnh nhân phong trên khắp dải đất Việt Nam (từ Quỳnh Lập đến Tây Nguyên). Nhiều học trò của ông về sau đã trở thành những Thầy thuốc Nhân dân, những nhà quản lý y tế kiệt xuất, tiếp tục thắp sáng tính nhân văn cốt lõi của ngành Y tế nước nhà.

"Việc học là suốt cả cuộc đời" và nếp nhà hiếu học dòng họ Đặng Vũ

Bên cạnh sự nghiệp y khoa lẫy lừng, GS.BS Đặng Vũ Hỷ còn để lại một bài học lớn về tinh thần tự học kiên trì và nếp nhà hiếu học sâu sắc.

làng hành thiện
Bản đồ làng Hành Thiện với những người con đỗ đạt, thành danh.

Xuất thân từ làng khoa bảng Hành Thiện (Nam Định) – nơi từng sinh ra 7 vị đỗ đại khoa, 97 Cử nhân, 248 Tú tài và là quê hương của cố Tổng Bí thư Trường Chinh, GS Hỷ thụ hưởng trọn vẹn mạch nguồn hiếu học của dòng họ Đặng Vũ. Dòng họ ông có ông nội là cụ Đặng Vũ Trợ (đỗ Cử nhân năm 1897, Tri phủ Nho Quan, tục gọi "Phủ Nho"), ông ngoại là cụ Đặng Văn Nhã (đỗ Cử nhân năm 1897, Tri phủ Vân Đình, tục gọi "Phủ Đình"), thân phụ là cụ Đặng Vũ Kính (từ Nho học sang Tân học, Nghị viên xứ Bắc Kỳ, tục gọi "Nghị Kính") và thân mẫu là cụ Đặng Thị Cát (bút danh Mộng Lan - nữ thi sĩ có nhiều thơ đăng báo Nam Phong của nhạc gia Phạm Quỳnh).

Trong hồi ký của con gái ông – GS-TS Đặng Thị Kim Chi (Chuyên gia Môi trường hàng đầu Việt Nam, cựu giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội), hình ảnh người cha miệt mài bên bàn làm việc mỗi đêm đã trở thành ký ức không bao giờ phai mờ.

20261022_150419.jpg
Gia đình SG Đặng Vũ Hỷ năm 1956, (bà Đặng Thị Kim Chi đứng giữa).

Năm đã gần 50 tuổi, dù đã là một Giáo sư uyên bác tiếng Pháp, GS Đặng Vũ Hỷ vẫn kiên trì đạp xe đi học tiếng Nga vào mỗi buổi tối. Thời điểm đó, nhiều đồng nghiệp trẻ hơn cũng tham gia lớp học nhưng rồi lần lượt bỏ dở vì thấy tiếng Nga quá khó. Riêng ông vẫn âm thầm, bền bỉ theo đuổi trọn vẹn khóa học cho đến khi đọc hiểu và làm chủ hoàn toàn ngữ liệu khoa học bằng tiếng Nga.

Khi thấy cha thức khuya đọc sách và viết lách liên tục, người con gái nhỏ hồn nhiên hỏi: "Sao ba không đi ngủ đi? Con mà là Giáo sư như ba thì con chẳng cần học làm gì nữa".

GS Đặng Vũ Hỷ mỉm cười rất lâu rồi ôn tồn dạy bảo:

"Con gái yêu quý, nếu nghĩ như vậy thì chắc con sẽ không bao giờ thành giáo sư được. Việc học là suốt cả cuộc đời con ạ, hãy luôn cố gắng học cho giỏi con nhé".

Lời dặn dò giản dị ấy đã khắc sâu vào tâm trí các con ông, trở thành động lực tinh thần mạnh mẽ giúp họ vượt qua những khó khăn trên con đường học vấn. Dù ông rất mong muốn các con nối nghiệp Y khoa, nhưng khi người con gái út quyết định chọn theo học ngành Hóa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội, ông không hề ngăn cản mà luôn tôn trọng lựa chọn cá nhân của con. Ông dặn dò các con một triết lý sống bao trùm: "Tùy con lựa chọn, nhưng dù làm nghề nào cũng phải luôn cố gắng là người có lương tâm, có đạo đức".

tuong-dai-giao-su-hy.jpg
Con gái GS. Hỷ, bà Đặng Thị Kim Chi, GS, TS, nhà khoa học đầu ngành về môi trường bên tượng người cha mình đặt tại khuôn viên của Viện Phong Quy Hoà, Quy Nhơn. Ảnh NVCC

Chính sự tôn trọng và nếp nhà nghiêm cẩn ấy đã nuôi dưỡng nên một thế hệ tri thức kiệt xuất đóng góp lớn cho đất nước. Con trai ông, GS.TSKH Đặng Vũ Minh, trở thành Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ), nguyên Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Con gái út, GS.TS Đặng Thị Kim Chi, trở thành chuyên gia hàng đầu về môi trường và vinh dự nhận Giải thưởng Kovalevskaia năm 2008. Hai người con còn lại là Bác sĩ Đặng Vũ Tứ và Bác sĩ Đặng Nguyệt Bính đã nối nghiệp y khoa tận tụy của cha.

Truyền thống ấy tiếp tục lan tỏa sang thế hệ cháu nội ngoại của ông khi cả 8 người cháu đều tốt nghiệp đại học và trên đại học (gồm 3 Tiến sĩ và 2 Thạc sĩ). Trong đó có thể kể đến TS Đặng Vũ Hoàng (chuyên ngành Sinh học phân tử), TS Đặng Lan Phương (Tâm lí học tại Nga), TS Đặng Lan Anh (Hóa học tại Pháp), và Nguyễn Diệu Hoa (Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Hoa hậu Việt Nam năm 1990, Á hậu cuộc thi "Hoa hậu quý bà thế giới" năm 2008).

Tinh thần kiên cường những ngày cuối đời và di sản sống mãi trong lòng dân

Những năm cuối đời, giữa lúc cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ diễn ra ác liệt ở miền Bắc, GS.BS Đặng Vũ Hỷ lâm bệnh nặng. Dù cơ thể phải gánh chịu những cơn đau dữ dội, ông vẫn lặng lẽ và kiên cường vật lộn với bệnh tật. Ông kiên trì chấp nhận đủ mọi biện pháp điều trị kết hợp cả Đông y lẫn Tây y với một hy vọng duy nhất: Có thể trở về với công việc giảng dạy, tiếp tục hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu các đề tài khoa học còn dang dở và xây dựng khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai trở thành một viện nghiên cứu đầu ngành.

Năm 1971, ghi nhận những đóng góp to lớn của ông đối với nền y học cách mạng, Chính phủ đã cử ông sang Quảng Châu (Trung Quốc) để điều trị chuyên sâu. Tuy nhiên, do bệnh tình quá nặng, ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 04/10/1972, để lại niềm thương tiếc vô hạn cho ngành Y tế Việt Nam, các thế hệ học trò và hàng vạn bệnh nhân.

mo-giao-su-dang-vu-hy(1).png
Nghĩa trang Ngân Hà (Quảng Châu, Trung Quốc), nơi đặt mộ phần Giáo sư Đặng Vũ Hỷ suốt 31 năm. Ảnh chụp lại tư liệu

Ông được an táng tại nghĩa trang Ngân Hà (thành phố Quảng Châu, Trung Quốc) suốt 31 năm. Đến năm 2003, gia đình cố GS Đặng Vũ Hỷ đã di dời hài cốt ông trở về quê nhà, an táng tại nghĩa trang Tiền Sơn, thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Năm 1996, Nhà nước đã truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ đợt 1 – phần thưởng danh giá nhất ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc của ông cho khoa học và sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tên của ông ngày nay được trang trọng đặt cho những con phố lớn ở các đô thị, bức tượng bán thân của ông được tạc đặt trang trọng tại các trung tâm điều trị phong như Bệnh viện Quy Hòa.

20261021_152626.jpg
Năm 1996, Nhà nước đã truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ đợt 1. Ảnh chụp lại tư liệu.

Trải qua hơn nửa thế kỷ kể từ ngày GS.BS Đặng Vũ Hỷ đi xa, hình ảnh vị Giáo sư dáng người cao to, nụ cười hóm hỉnh có duyên, giọng nói trầm từ tốn cùng đôi bàn tay ấm áp tận tụy vì bệnh nhân vẫn hiển hiện nguyên vẹn trong ký ức của các thế hệ học trò và nhân dân.

Di sản lớn nhất mà ông để lại cho thời đại không chỉ là những công trình nghiên cứu hay danh vị cao sang, mà chính là tấm lòng nhân vị bao la, bản lĩnh của một trí thức yêu nước và một nếp nhà hiếu học truyền đời. Ngọn lửa y đức ấy sẽ luôn là ngọn đuốc soi đường, tiếp thêm niềm tự hào cho các thế hệ thầy thuốc và nhà khoa học Việt Nam hôm nay và mai sau.

Nổi bật
      Mới nhất
      Giáo sư Đặng Vũ Hỷ: (Kỳ cuối) - Tạc một tấm lòng vào lị ch sử Y học dân tộc
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO