Du lịch

Giữa lời bàn tán về Thủ Lệ và tiếng máy ủi dưới chân núi Ba Vì, chữ ‘Safari’ bị hiểu theo đủ cách

Mai Phan Lợi • 11/10/2026 7:00

Chiều 8/10, trên một số nhóm cư dân phường Giảng Võ, đường link các bản vẽ lấy ý kiến quy hoạch Công viên Thủ Lệ, tức Vườn Bách thú Hà Nội, lan truyền nhanh chóng. Giữa hàng chục bình luận về cây xanh, hồ nước, lối đi dạo, có một ý kiến được “thả tim” nhiều: “Đưa hết thú về Safari Ba Vì đi. Nom chúng bị nhốt đến tội nghiệp. Thế giới giờ ai còn nhốt thú giữa trung tâm thành phố nữa?”.

Câu hỏi nghe xuôi tai, đầy lòng trắc ẩn. Nhưng nó dựa trên một giả định chưa được kiểm chứng rằng Safari là nơi thú không còn bị nhốt?

Không hẹn mà gặp, chỉ một ngày sau khi Giảng Võ công bố dự kiến quy hoạch Thủ Lệ, Safari Ba Vì khởi công. Hai tin xuất hiện sát nhau khiến người ta tự nhiên ghép chúng thành một câu chuyện: thú rời phố, lên rừng. Rồi một nỗi lo khác trỗi lên: xây vườn thú ngay sát Vườn quốc gia Ba Vì liệu có đồng nghĩa với bê tông hóa, chặt cây, phá rừng?

Hai nỗi băn khoăn, một xuất phát từ lòng thương thú, một từ mong muốn giữ rừng, đều đáng được giải đáp. Muốn trả lời, phải bắt đầu từ chữ Safari.

Một chữ đi từ sa mạc ra châu Âu

“Safari” được mượn từ tiếng Swahili ở Đông Phi, xa hơn nữa là từ chữ “safar” trong tiếng Ả Rập, nghĩa là chuyến đi, cuộc hành trình. Đến thế kỷ XIX, từ này gắn với những chuyến thám hiểm và săn bắn kéo dài của người châu Âu trên thảo nguyên châu Phi, nơi con người đi qua còn thú hoang là những cư dân bản địa.

Rồi thời thế đổi thay. Súng được thay bằng ống nhòm và máy ảnh. Các khu bảo tồn như Kruger ở Nam Phi hay Serengeti ở Tanzania trở thành điểm đến của những người muốn “ngắm” thay vì “bắn”.

Đến thập niên 1960, ý tưởng ấy được đưa vào mô hình thương mại ngay tại các nước công nghiệp. Nhật Bản có mô hình tham quan bằng xe chuyên dụng ở khu vực Tama, Tokyo. Năm 1966, một công viên động vật hoang dã lớn mở cửa tại Wiltshire (Anh), cho phép du khách lái xe riêng đi qua khu vực sinh sống của sư tử. Triết lý của mô hình này được tóm gọn trong một câu nghe như đùa mà hóa ra rất nghiêm túc: “nhốt người, thả thú”.

chauphi.jpeg
Masai Mara (phía tây nam Kenya) là địa điểm Safari hàng đầu ở Đông Phi. Ảnh: Pantravel.vn

Đảo ngược vai trò

Đó mới là khác biệt căn bản mà nhiều người bỏ qua. Ở vườn thú kiểu Thủ Lệ, khách đi dọc các dãy chuồng, còn thú đứng trong khung song sắt hoặc sau hào nước. Người là kẻ nhìn, thú là đối tượng bị nhìn.

Ở Safari, vai trò đảo ngược: Du khách ngồi trong chiếc xe buýt bọc lưới, cửa kính khép chặt, bánh xe lăn chậm qua những lùm cây, hồ nước và đồng cỏ. Con sư tử nằm vắt vẻo bên đường, mắt lim dim liếc về phía chiếc hộp sắt đầy những gương mặt nín thở. Lúc ấy, ai là “khán giả”, ai là “tiết mục”?

Một số người Hà Nội còn đùa để giải thích điều này. Ai từng đến khu di tích Nhà tù Hỏa Lò đều bảo nơi ấy giống một Safari thu nhỏ. Sáo đen chân vàng, cu gáy, chào mào, đủ loài chim quý và không quý, suốt ngày quẩn quanh các gian buồng, đậu trên cành sấu, cành xoài, sà xuống sát mép cửa sổ, nghiêng đầu ngó vào xem con người nằm ngồi sinh hoạt bên trong. Người bị giữ lại, chim tự do. Thú nhìn người là như thế đó, và chỉ cần hình dung một chút là đủ hiểu ai mới là kẻ “bị nhốt” trong Safari.

Điều này dẫn đến một vấn đề khác: ếu chỉ vì muốn “không nhốt thú” mà đòi di dời cả vườn thú đô thị, chúng ta đang nhầm lẫn hai khái niệm. Safari không đơn giản là “vườn thú không chuồng”. Đây là mô hình khác, đòi hỏi diện tích lớn, sinh cảnh phù hợp và năng lực quản lý khác hẳn.

Bốn gương mặt của Safari

Cũng vì thế, Safari trên thế giới không phải một mô hình duy nhất mà là cả một "họ".

Phổ biến nhất là Drive-through Safari, nơi du khách ngồi trên xe đi qua các khu vực mở dành cho sư tử, hổ, hươu cao cổ, tê giác. Kín đáo hơn là Walking Safari, hay vườn thú mở, nơi hào nước và vách đá nhân tạo thay cho chuồng sắt, giúp du khách đi bộ mà không có cảm giác bị ngăn cách. Một loại hình khác là Night Safari, khai thác tập tính hoạt động về đêm của các loài thú, nổi tiếng nhất là Night Safari ở Singapore. Ngoài ra còn có Safari đường thủy, nơi du khách ngồi thuyền dọc theo sông để ngắm hệ sinh thái ven bờ.

jc.png
Hình thức phổ biến nhất là Drive-through Safari, du khách ngồi trên xe đi qua các khu vực mở dành cho sư tử, hổ, hươu cao cổ, tê giác... Ảnh: JC Families.

Ở Việt Nam, Vinpearl Safari Phú Quốc kết hợp hình thức tham quan bằng xe buýt qua khu vực có hổ Bengal, sư tử, tê giác với khu đi bộ dành cho các loài hiền. FLC Zoo Safari Park Quy Nhơn thiên về mô hình vườn thú mở, nơi du khách có thể cho thú ăn, ngắm chim và thăm hồ thiên nga. Còn Safari Ba Vì, với quy mô khoảng 299 ha, được định hướng thành tổ hợp nhiều loại hình, gồm tham quan bằng xe, giáo dục bảo tồn và du lịch sinh thái.

phuquoc.jpg
Du khách tham quan ở Vinpearl Safari Phú Quốc trên xe buýt. Ảnh: Vinpearl Safari Phú Quốc.

Nỗi lo bê tông: Đúng một nửa, sai một nửa

Quay lại câu chuyện dưới chân núi Ba Vì. Nỗi lo ấy không phải không có cơ sở, bởi lịch sử nhiều dự án du lịch trong rừng và ven rừng cho thấy “sinh thái” đôi khi chỉ là cái nhãn dán lên một công trình bê tông. Nhưng riêng với Safari, có một nghịch lý đáng suy nghĩ. Đây là loại hình cần đến rừng hơn nhiều công viên giải trí khác. Một con hổ không thể sống trên nền gạch men. Cây xanh, thảm thực vật và mặt nước ở đây không phải đồ trang trí mà là hạ tầng cốt lõi, đồng thời tạo nên “chuồng” của thú.

Vì vậy, một Safari đúng nghĩa thường chỉ dành khoảng 5-15% diện tích cho các công trình xây dựng kiên cố như nhà điều hành, hạ tầng kỹ thuật và khu cách ly. Phần còn lại là cây xanh, mặt nước và hành lang sinh thái.

safari.webp
Phối cảnh cổng dự án Công viên Safari Ba Vì. Ảnh: CĐT.

Với Ba Vì, theo thông tin quy hoạch, dự án đã giảm quy mô từ 580 ha xuống còn khoảng 299 ha nhằm tránh tác động đến rừng tự nhiên và đời sống dân cư quanh vùng; 81,8% diện tích được dành cho cây xanh và mặt nước. Các dự án Safari thường lựa chọn đất rừng sản xuất nghèo kiệt, đồi trọc hoặc phân khu dịch vụ, hành chính ở vùng đệm, thay vì tác động đến vùng lõi rừng đặc dụng.

Nhưng đó mới là những con số trên giấy. Giữa bản quy hoạch và mảnh đất thật còn một khoảng cách đủ rộng để rừng có thể mất đi. Điều cần theo dõi không phải là chữ “Safari”, mà là báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), ranh giới thực địa và việc thi công có đúng với những con số đã công bố hay không. Safari đúng nghĩa là mô hình du lịch dựa vào rừng, góp phần giữ rừng. Còn một công trình mang tên Safari mà lại bê tông hóa thì đó là một dự án sai chỗ, chứ không phải lỗi của mô hình.

Thủ Lệ và Ba Vì không phải là lựa chọn “hoặc - hoặc”

Có lẽ vì vậy, bài toán không nên được đặt ra theo kiểu “đưa thú lên Ba Vì cho tử tế”. Vườn thú nội đô và Safari là hai mô hình khác nhau, đáp ứng hai nhu cầu khác nhau: Một bên gần dân, quy mô nhỏ, dễ tiếp cận; bên kia rộng, xa và đòi hỏi đầu tư lớn. Điều đáng hỏi với Thủ Lệ là cần cải tạo thế nào để thú sống tốt hơn, người đến tham quan có thêm kiến thức về giáo dục và bảo tồn, chứ không phải buông một câu: “Giờ ai còn nhốt thú giữa phố?”.

Cũng đừng vội dán nhãn cho Ba Vì chỉ vì nghe đến chữ “xây”. Điều cần làm là xem xét từng con số, từng ranh giới đất đai.

Trong Safari, du khách ngồi sau lớp kính và được thú nhìn qua. Nhưng ngoài đời, thứ đáng sợ nhất không phải con sư tử nằm bên đường, mà là những cái nhìn vội vàng và những kết luận vội vàng. Trước khi quyết định ai nhốt ai, người xem nên tự hỏi mình đang nhìn bằng con mắt nào.

Nổi bật
      Mới nhất
      Giữa lời bàn tán về Thủ Lệ và tiếng máy ủi dưới chân núi Ba Vì, chữ ‘Safari’ bị hiểu theo đủ cách
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO