Góc khuất chiến tranh Việt Nam qua ánh nhìn phụ nữ Mỹ trong ‘Nữ Nhân’
Ngày 20.10 – Ngày Phụ nữ Việt Nam – sẽ càng ý nghĩa hơn với những người yêu văn học, khi họ dành thời gian tìm hiểu về một tác phẩm mang cái tên rất đỗi nữ tính và sâu sắc: Nữ Nhân.

Năm 1966, cuộc sống nhung lụa cùng những kỳ vọng nặng nề từ gia đình và xã hội khiến Frances Grace McGrath – cô gái trẻ trong Nữ Nhân – dường như bị giam hãm trong chiếc lồng hào nhoáng. Nhưng khi người anh trai lên đường sang Việt Nam, khoảng trống trong lòng cô bỗng hiện rõ: sự ngột ngạt, cô đơn và khát vọng được thoát khỏi khuôn mẫu trở nên không thể chịu đựng. Giữa bối cảnh nước Mỹ đang chìm trong cuộc chiến tranh đầy tranh cãi, Frances – hay Frankie, cô gái hồn nhiên, mơ mộng – quyết định rời khỏi thế giới yên bình trên đảo Coronado để bước ra đời thật, tìm cho mình một con đường riêng.
Với ước muốn tiếp nối truyền thống phục vụ đất nước mà người anh để lại, Frankie khoác lên mình bộ quân phục trắng của y tá và đặt chân đến Việt Nam – vùng đất xa lạ, nơi bom đạn không chỉ hủy hoại con người mà còn tàn phá cả niềm tin. Tại các bệnh viện dã chiến giữa rừng núi Pleiku, cô đối mặt với hiện thực khốc liệt: những ca mổ trong tiếng rên la, mùi máu tanh, sự hoảng loạn và tuyệt vọng của tuổi trẻ. Ở đó, Frankie nhận ra chiến tranh không chỉ diễn ra trên chiến trường, mà còn trong tâm hồn của từng người lính, trong nỗi hoang mang của những người trẻ bị cuốn vào vòng xoáy của quyền lực và dối trá.
Khi chiến tranh kết thúc, Frankie trở về Mỹ với thân thể nguyên vẹn nhưng tâm hồn đầy thương tích. Cô rơi vào chứng rối loạn tâm lý hậu sang chấn (PTSD), bị xã hội quay lưng, bị lãng quên như thể sự hy sinh của cô chưa từng tồn tại. Sự bội bạc của nước Mỹ với những người từng phục vụ nơi tiền tuyến trở thành vết dao thứ hai, sâu hơn cả nỗi đau chiến tranh. Trong những trang cuối, hành trình của Frankie và những đồng đội nữ biến thành cuộc chiến khác – cuộc chiến để tồn tại, để tìm lại bản sắc, để hòa giải với quá khứ.

Kristin Hannah – tác giả của The Nightingale và The Great Alone – đã dành nhiều năm nghiên cứu, đọc lại hàng trăm hồi ký của các y tá Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam để tạo nên The Women. Câu chuyện của Frankie được khắc họa không như một bản anh hùng ca, mà như một bi kịch nhân văn về những người phụ nữ âm thầm chịu đựng, cứu chữa và chứng kiến sự hủy diệt. Các trường đoạn trong phòng mổ dã chiến được Hannah viết bằng giọng văn điện ảnh – máu, bùn đất, tiếng gào khóc – khiến người đọc có cảm giác như đang “ở ngay đó”, giữa ranh giới mong manh giữa sống và chết.
Tác phẩm này giúp người Việt Nam có cái nhìn hiểu rõ hơn về nỗi lòng của phụ nữ Mỹ khi trực tiếp tham gia cuộc chiến ở Việt Nam. Để có thể tìm hiểu kỹ hơn về "Nữ Nhân", PV Một Thế giới đã thực hiện cuộc phỏng vấn với dịch giả Nguyễn Việt Hải.
Phóng viên: Thưa anh, điều gì đã khiến anh chọn dịch “Nữ Nhân” – một tiểu thuyết về chiến tranh Việt Nam và số phận những người phụ nữ Mỹ, giữa vô vàn tác phẩm quốc tế khác?
Dịch giả Nguyễn Việt Hải: Khi có đề xuất của Phanbook, tôi nhận lời ngay. Bản thân Kristin Hannah đã là một nữ tác giả nổi tiếng, viết rất sâu sắc và xúc động về nữ giới. Trước đây tôi có đọc tác phẩm “Sơn ca vẫn hót” của bà. Bối cảnh của “Nữ Nhân” là cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam, điều đó lại càng thôi thúc tôi hơn. Vì khoảng thời gian mà tác giả tập trung sâu cũng chính là giai đoạn Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của người Việt diễn ra cam go nhất, nóng bỏng nhất.
Phía Mỹ hối hả dồn quân sang chiến trường miền nam Việt Nam, và miền bắc Việt Nam cũng tích cực chi viện cho miền nam. Ở phía Việt Nam, đó là cuộc chiến không khoan nhượng để có được tự do, độc lập, thống nhất. Còn phía Mỹ, đó là cuộc chiến khiến Mỹ sa lầy và bị chính người dân Mỹ lên án kịch liệt. Thương tổn của phía Mỹ là rất lớn, rất nhiều tác phẩm văn chương và điện ảnh của Mỹ đã phản ảnh chấn thương của các cựu binh Mỹ thời hậu chiến. Tôi vốn đam mê lịch sử, và lần này, tôi rất mong được xem cách tác giả thể hiện “bóng ma” chiến tranh Việt Nam từ góc nhìn của phụ nữ Mỹ.
Phóng viên: Ở góc nhìn của người Việt, khi đọc một cuốn sách do người Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam, cảm xúc của anh có khi nào bị giằng xé giữa “sự thật lịch sử” và “câu chuyện hư cấu” không?
Dịch giả Nguyễn Việt Hải: Dĩ nhiên, có nhiều đoạn khiến tôi phải nhíu mày. Có thể đó là một chi tiết chưa được kiểm chứng, hoặc một tình tiết xa lạ với nhận thức chung của người Việt lâu nay. Chẳng hạn, tác giả nhiều lần cho thấy: quân Mỹ mỗi khi lên trực thăng, rất sợ bị quân đội Việt Nam bắn hạ từ dưới, hoặc có một nỗi lo sợ luôn bao trùm lên các trại lính Mỹ là nỗi sợ bị quân Việt Nam trú ẩn trong khu rừng xung quanh hạ sát. Tuy nhiên, khi xem thêm nhiều phim tài liệu phỏng vấn cựu binh Mỹ, tôi thấy tác giả bám rất sát lời kể của những người này. Do là góc nhìn của người Mỹ, nên đôi khi tác giả không thể tránh khỏi việc có phần thiên kiến.

Chẳng hạn, bà cho rằng các binh lính Mỹ bị giam ở nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội, là đang bị cầm tù trong “Địa ngục trần gian”, tuy nhiên bà lại không đề cập đến các nhà tù do chế độ Việt Nam Cộng Hòa lập ra để dành cho các tù nhân cộng sản như nhà tù ở Côn Đảo, Phú Quốc, khám Chí Hòa… Việc ném bom của Mỹ ở Hà Nội cuối năm 1972 cũng như chiến sự ác liệt ở khu vực Thành cổ Quảng Trị lại không được tác giả đề cập vì lý do nào đó. Tuy nhiên, tác giả lại mô tả rất kĩ nỗi lo của dân Mỹ dành cho những tù binh Mỹ bị giam ở Hỏa Lò, những người bị bắt giữ sau khi ném bom ở miền bắc Việt Nam. Tất nhiên, không thể đòi hỏi tác giả phục dựng trọn vẹn cuộc chiến, vì bà đang viết tiểu thuyết, lấy phông nền chiến tranh.
Phóng viên: Trong quá trình dịch, đâu là phần khiến anh xúc động hoặc day dứt nhất — những trang mô tả chiến trường Việt Nam, hay là những ngày Frankie trở về nước, bị xã hội Mỹ quay lưng?
Dịch giả Nguyễn Việt Hải: Có hai nhóm nội dung làm tôi day dứt nhất. Thứ nhất, là những mô tả rất thực tế, trần trụi, tang tóc về một góc khác trên chiến trường miền nam Việt Nam, đó là mô tả về thương vong của lính Mỹ, dưới mắt một nữ y tá. Bản thân những thanh niên Mỹ đó hăng hái dấn thân vào một cuộc chiến tất bại mà không hề hay biết. Họ bị thúc giục bởi những chiêu bài tuyên truyền từ giới cầm quyền Mỹ, và khi nhận ra bị dối gạt thì đã muộn.
Thứ hai, là hình ảnh đoàn cựu binh Mỹ tuần hành đến chân đồi Capitol, trong đó có nhân vật chính Frankie và các bạn dù người ta cho rằng “không có nữ quân nhân Mỹ ở Việt Nam”, và họ cùng ném tất cả những huân huy chương thành một đống. Có thể nói, tinh thần phản chiến của người Mỹ có vai trò rất lớn. Chi tiết đống huân huy chương lấp lánh dưới chân đồi Capitol cho thấy những cựu binh Mỹ thậm chí coi khinh sự ghi nhận của chính quyền cho các hi sinh của họ.
Phóng viên: Theo anh, “Nữ Nhân” có phải chỉ là một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh, hay sâu xa hơn là câu chuyện về bản lĩnh và sự cô đơn của người phụ nữ trong hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc đời?
Dịch giả Nguyễn Việt Hải: Ngay từ cái tên “Nữ Nhân” (The Women) tác giả đã có ý muốn đặt yếu tố nữ tính lên trên tất cả, chiến tranh là phông nền cho tác giả thể hiện câu chuyện về tính nữ. Câu chuyện của ba nhân vật chính trong truyện là tiêu biểu cho số phận rất nhiều phụ nữ Mỹ đã đi qua chiến tranh. Thương tổn của họ là thương tổn của thế hệ.
Phóng viên: Có ý kiến cho rằng “Nữ Nhân” giúp người đọc Việt Nam hiểu hơn về “nỗi đau bên kia chiến tuyến”. Anh nghĩ cuốn sách này có thể mở ra cuộc đối thoại nào giữa phụ nữ hai quốc gia – những người từng chịu tổn thương bởi cùng một cuộc chiến?
Dịch giả Nguyễn Việt Hải: Khi đọc “Nữ Nhân”, tôi ngỡ ngàng khi biết rằng ở Mỹ có rất nhiều phụ nữ chịu ảnh hưởng từ Tác Nhân Da Cam trong chiến tranh, giống như chất độc ấy đã gây hại cho vô số gia đình Việt Nam đến tận bây giờ. Tôi cho rằng “Nữ nhân” góp phần thu hẹp thêm khoảng cách giữa hai dân tộc từng đối địch, khi mà đến ngày nay vẫn còn những di chứng của cuộc chiến nửa thế kỷ trước chưa được sửa chữa.
Với kinh nghiệm của mình, anh nhìn nhận vai trò của người dịch ra sao khi chuyển ngữ một tác phẩm viết về phụ nữ? Theo anh, điều khó nhất là giữ nguyên tinh thần tác phẩm, hay là truyền tải được sự mềm mại, tế nhị vốn có của thế giới nữ tính?
Viết về phụ nữ, hay nam giới, hay bất cứ đối tượng nào, quan trọng nhất vẫn là hiểu đúng, và hiểu rộng chủ đề mình đang dịch. Nữ giới vẫn được xem là phái yếu, vẫn được gắn với các hình ảnh mềm mại. Tuy nhiên, nếu tác giả gắn họ với các hình ảnh cứng rắn, thô phác, thậm chí bạo liệt, hoang dại… thì người dịch vẫn phải trung thành với bản gốc. Thế giới nữ tính rất rộng lớn, đôi khi không được thể hiện qua sự mềm mại và tế nhị. Tác phẩm vốn đã là một thế giới trọn vẹn, đầy đủ, nên người dịch chỉ cần tập trung khai thác đúng những gì tác giả muốn thể hiện đã là rất thành công. Nên hạn chế tối đa việc bổ sung các “giá trị gia tăng”, vì đôi khi lại làm lệch đi ít nhiều tinh thần của tác phẩm. Cũng không được “gia giảm” sắc thái lời văn của tác giả. Tác phẩm có sức sống riêng, có số phận của nó, tự nó vốn sẽ quyết định sự đón nhận của độc giả.
Phóng viên: Khi dịch một tác phẩm có bối cảnh Việt Nam nhưng được viết từ góc nhìn nước ngoài, anh có can thiệp gì về mặt ngôn ngữ, cách gọi địa danh hay sự kiện để phù hợp hơn với cảm nhận của người đọc trong nước không?
Dịch giả Nguyễn Việt Hải: Tôi trung thành với công sức của tác giả. Bản thân tác giả cũng rất cẩn thận khi xây dựng tác phẩm này. Tuy là tiểu thuyết, nhưng có thể coi cuốn sách như một phóng sự dài kỳ về chiến tranh và xã hội Mỹ, tính xác thực rất cao. Tác giả đã khai thác hồi ký của các cựu quân nhân, phỏng vấn nhiều nhân chứng chiến tranh, và có sự nghiên cứu sâu về chiến tranh Việt Nam cũng như những biến động xã hội Mỹ, cộng thêm trải nghiệm cá nhân của gia đình tác giả, nên tôi không có cảm giác đọc một tác phẩm hư cấu.

Ngoài việc thực hiện nhiều chú thích để làm rõ hơn về các khái niệm ít gặp trong quân đội, y tế, trang phục, …, tôi không can thiệp vào ý đồ của tác giả. Thực ra, tôi có một chú thích khá dài khi nói về nhà tù Hỏa Lò, lý do thì tôi đã nói ở trên kia. Tác giả rất thẳng thắn khi phê phán giới cầm quyền Mỹ, nhưng lại có không ít ưu ái đối với binh lính, những người trực tiếp cầm súng.
Phóng viên: Nhiều độc giả nói rằng họ nhìn thấy bóng dáng người phụ nữ Việt – những người mẹ, người chị thời hậu chiến – trong Frankie. Anh có nghĩ “Nữ Nhân” là một tác phẩm mang tính toàn cầu về thân phận và nghị lực của phụ nữ, vượt qua biên giới quốc gia?
Dịch giả Nguyễn Việt Hải: Tôi cho rằng, tác giả muốn kể câu chuyện mà bà muốn kể và nhiều phụ nữ Mỹ khác muốn kể. Cuốn sách có phạm vi và tinh thần riêng, khó có thể gán cho “Nữ Nhân” tính “toàn cầu” về vấn đề nào đó. Đây là một câu chuyện của riêng những phụ nữ Mỹ trong và sau chiến tranh. Người đọc trên khắp thế giới có thể có cách đón nhận riêng, hình dung riêng về tác phẩm. Nếu ở bất cứ nền văn hoá nào, người ta đều nhận được những giá trị từ “Nữ Nhân”, thì đó là thành công lớn của tác giả và tác phẩm.
Như lời tâm sự của tác giả ở cuối, bà thai nghén tác phẩm này từ lâu, muốn qua nó để tri ân những phụ nữ Mỹ phục vụ trong chiến tranh nói riêng, vì câu chuyện của họ bị khỏa lấp trước câu chuyện của vô vàn nam nhân Mỹ. Người đọc ghi nhận và hiểu đúng về những thân phận gần như vô danh trong một cuộc chiến quá nặng nề, thê thảm đối với người Mỹ, thì đó là lúc tác giả đã đạt được mong cầu.
Xin cảm ơn anh về cuộc trao đổi!

Dịch giả Nguyễn Việt Hải sinh năm 1992 tại Hà Nội, hiện là chuyên viên tại Công ty luật quốc tế, đồng thời biên dịch sách báo. Các chủ đề anh quan tâm là Văn học, Lịch sử và Y học.
Các dịch phẩm tiêu biểu: Hai số phận (Jeffrey Archer), Chuyện kỳ dị về Benjamin (Francis Scott Fitzgerald), Jack Frost (William Joyce), Nữ nhân (Kristin Hannah), Chiếc xe màu tím (Edith Nesbit), Những đứa con của thuyền trưởng Grant (Jules Verne - sắp phát hành)..