GS.TS Trần Hồng Thái: Xác lập "Chủ quyền công nghệ" – Từ bài học lò hạt nhân Đà Lạt đến giấc mơ Chip Việt
Giữa nhịp sống hối hả của Thủ đô những ngày cuối năm Ất Tỵ, Cà phê Một Thế Giới được Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Chủ tịch thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Việt Nam dành thời gian đầu giờ sáng để trò chuyện. Cuộc đối thoại đi qua những "vùng khí hậu" quản trị khác nhau, từ Bộ KH&CN, về vùng cao nguyên Lâm Đồng và nay trở lại môi trường hàn lâm.
.jpg)

- Thưa Giáo sư, Đại hội XIV vừa khép lại với phương châm "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển" và đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ đại hội, Đại hội XIV ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết - một bước đột phá nhằm bảo đảm Nghị quyết đi ngay vào cuộc sống. Từ góc nhìn của mình, Giáo sư có thể chia sẻ về vai trò của khoa học công nghệ trong quyết tâm, đột phá, hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của Đảng ta?
GS.TS Trần Hồng Thái: Đây là hai mốc thời gian mang tính vận mệnh. Năm 2030, chúng ta phải đưa Việt Nam trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, tương đương với trình độ phát triển của Hàn Quốc hiện nay. Để đạt được điều đó, kinh tế phải tăng trưởng đột phá bình quân 10%/năm hoặc cao hơn. Đây là tốc độ đột phá chưa từng có, nhưng hoàn toàn khả thi nếu chúng ta “phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực” như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh. Khoa học công nghệ phải là động lực chính của sự tăng trưởng này.
Đến năm 2045, chúng ta phải trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, ngang tầm thế giới - đạt vị thế như Nhật Bản hiện nay. Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu về đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, với nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới. Đó là ước mơ lớn nhưng hoàn toàn khả thi nếu chúng ta kiên định và quyết tâm cao.
Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt mục tiêu Việt Nam phải thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo toàn cầu vào năm 2045. Để làm được, chúng ta cần làm chủ công nghệ nòng cốt trong ít nhất 3 đến 5 lĩnh vực then chốt và tiến tới làm chủ 11 công nghệ chiến lược đã được Thủ tướng phê duyệt theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo không chỉ là động lực mà phải là trụ cột tăng trưởng.

- Theo Giáo sư, chúng ta cần triển khai ngay những gì để đạt được những mục tiêu trên?
GS.TS Trần Hồng Thái: Một số lĩnh vực mà chúng ta cần triển khai ngay: Đẩy mạnh các công nghệ sinh học biển, công nghệ biển, khoáng sản biển. Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã định hướng các ứng dụng công nghệ Việt Nam để khai thác đáy biển, trong lòng biển, mặt biển và không gian trên mặt biển để phát triển kinh tế đi đôi với khẳng định chủ quyền quốc gia.
Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP Việt Nam đạt khoảng 11% - 13,96% (năm 2023-2024). Ứng dụng khoa học công nghệ tăng cường hiệu quả sử dụng đất, phát huy tối đa tiềm năng khí hậu, nâng cao chất lượng giống cây trồng, hiện đại hóa quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến sau thu hoạch, chế biến sâu và kéo dài chuỗi chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp là vô cùng quan trọng.

Với diện tích trên 14,8 triệu hecta rừng, tỷ lệ che phủ đạt 42,03% (năm 2024) thì rừng là nguồn tài nguyên sống còn của Việt Nam. Viện Hàn lâm sẽ đẩy mạnh việc ứng dụng các công nghệ liên quan đến rừng, như: công nghệ dệt may từ vật liệu tre, phát triển dược liệu dưới tán rừng; hình thành các trung tâm nghiên cứu về vật liệu mới để nâng cao hiệu quả khai thác rừng trồng; nhân rộng các kết quả nghiên cứu sẵn có để mở rộng diện tích trồng cây thông đỏ thay thế cây thông truyền thống để tách chiết các sản phẩm quý từ thông đỏ, từ đó xây dựng các doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, cải thiện sinh kế cho người dân.
Cần đẩy mạnh hơn ứng dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình – vốn đã từng bước đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của Việt Nam. Có thể kể đến thành tựu đáng ghi nhận của lò Đà Lạt, nơi sản xuất từ 1.000 đến 1.500 Ci thuốc phóng xạ/năm, đặc biệt trong đại dịch Covid-19 lò đã vận hành ở cường độ cao đáp ứng gần 100% nhu cầu trong nước về thuốc phóng xạ I-131 (điều trị các bệnh lý tuyến giáp), phục vụ chẩn đoán và điều trị cho hàng triệu bệnh nhân trong cả nước.

Kinh tế tầm thấp là trụ cột mới cho tăng trưởng và an ninh quốc gia: Viện Hàn lâm sẽ chủ động để trong 5 năm tới phấn đấu làm chủ các dây chuyền sản xuất UAV phục vụ sản xuất nông nghiệp, bảo vệ rừng, phòng chống thiên tai… Trước mắt, chúng ta cần sớm làm chủ sản xuất chip bán dẫn tiến trình trên 90nm để bảo đảm tỷ lệ làm chủ UAV tiệm cận 90% nội địa hóa. Đây chính là cơ sở nền tảng cho những năm tiếp theo, Việt nam có thể làm chủ công nghệ và sản xuất chip bán dẫn ở các tiến trình hiện đại hơn như các nước phát triển trên thế giới.
Nói một cách ngắn gọn như một mệnh lệnh “Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định ra con đường, nhiệm vụ của thế hệ chúng tôi là biến giấc mơ đó thành hiện thực, bằng mồ hôi và trí tuệ của những người con đất Việt”. Đó là trách nhiệm và khát vọng của chính những nhà khoa học, những nghiên cứu viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

- Lộ trình công tác của ông có sự luân chuyển khá thú vị. Từ nhà khoa học thuần túy đến quản trị vĩ mô, rồi trực tiếp điều hành địa phương và rồi quay lại với khoa học công nghệ, với các nhà khoa học ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam. Những ngày trải nghiệm thực tế có ý nghĩa thế nào với ông?
GS.TS Trần Hồng Thái: Tôi cho rằng được trải qua các vị trí công tác từ trung ương về địa phương và rồi quay lại công tác ở Viện Hàn lâm là trải nghiệm rất đáng trân quý. Kinh nghiệm ở Lâm Đồng cho tôi thấy được những vấn đề, những lĩnh vực và những cơ hội phát triển mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cần được quan tâm đầu tư và có thể đóng góp như một trụ cột phát triển.
Khi quy hoạch được những vùng trồng phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu thì hiệu quả sử dụng đất tăng rất cao. Ở vùng Đạ Huoai (cũ) của Lâm Đồng, mỗi hecta sầu riêng có thể đạt doanh thu trên 700 triệu/năm; ở vùng Đức Trọng, Đà Lạt (cũ), doanh thu trồng hoa có thể đạt đến 2-3 tỉ/ha/năm; hay như vùng đất Di Linh (cũ) với những vườn cà phê năng suất hàng đầu cả nước, người nông dân có thể thu về gần 400 triệu đồng/ha. Đó là con số thu nhập mơ ước cho người nông dân, nhờ đó mà các vùng nông thôn Lâm Đồng, đời sống người dân thực sự khấm khá.
Tuy nhiên, cũng có những mặt hạn chế, khi phát triển quá nhanh, quá nóng thì việc khai thác thiên nhiên có thể dẫn đến những tác động cực đoan như nhà màng, nhà lưới phá vỡ cảnh quan môi trường, gây nguy cơ sạt trượt tại Đà Lạt, nguy cơ mất rừng vì cà phê, sầu riêng. Và đây lại là nơi khoa học công nghệ phải vào cuộc, hành động để từng bước tháo gỡ các khó khăn, bảo đảm sinh kế người dân.
Trải nghiệm tại Lâm Đồng dạy cho tôi rằng khoa học phải chảy theo nhịp đập của nhu cầu thực tế. Khoa học đúng nghĩa phải giúp thay đổi phương thức sản xuất bền vững. Các nhà khoa học, các nhà quản lý khoa học nên về và phải về với địa phương, với người dân, doanh nghiệp để thực sự sống và trăn trở để từ khó khăn của sản xuất mà tự tìm ra bài toán và sứ mệnh của mình.


- Ngành năng lượng nguyên tử là một ví dụ điển hình về "chủ quyền công nghệ". Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt có câu chuyện "vỏ Mỹ, lõi Nga, tinh thần Việt Nam" rất đáng tự hào. Ông có thể chia sẻ chi tiết hơn?
GS.TS Trần Hồng Thái: Đây chính là minh chứng sống động nhất cho tinh thần "Tiến lên!" mà Tổng Bí thư kêu gọi. Năm 1963, Mỹ xây dựng lò phản ứng hạt nhân TRIGA Mark-2 công suất 250 kW tại Đà Lạt - lò hạt nhân đầu tiên của Đông Nam Á. Tháng 3.1975, trước khi Đà Lạt giải phóng, người Mỹ đã rút hết các thanh nhiên liệu - "trái tim" của lò phản ứng - đưa về nước, khiến lò không thể hoạt động.
Sau thống nhất, cuối năm 1975, Liên Xô đồng ý giúp Việt Nam khôi phục lò phản ứng. GS.TS Phạm Duy Hiển được cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp giao trọng trách chủ trì công trình này. Đây là thách thức khổng lồ vì công nghệ lò phản ứng của Liên Xô và Mỹ rất khác nhau - khác từ nguyên lý hoạt động đến bản chất vật lý của nhiên liệu.
Từ 1982-1984, với sự phối hợp giữa đội ngũ cán bộ Việt Nam và chuyên gia Liên Xô, chúng ta đã thành công khôi phục lò với lõi công nghệ IVV-9 của Nga, nâng công suất từ 250 lên 500 kW. Ngày 20.3.1984, lò phản ứng chính thức đi vào hoạt động - một mốc son chói lọi của khoa học Việt Nam.
Nhưng điều đáng tự hào hơn cả là: tháng 2.1985, sau khi 3 chuyên gia cuối cùng của Liên Xô về nước, các nhà khoa học thế hệ đầu của Viện Nghiên cứu hạt nhân đã nhanh chóng tiếp cận, làm chủ kỹ thuật, vận hành an toàn, khai thác hiệu quả lò phản ứng. 40 năm qua, không một sự cố nào xảy ra. Lò phản ứng Đà Lạt được quốc tế đánh giá là "lò sử dụng hiệu quả nhất trong các lò có công suất thấp trên thế giới".
Đó chính là "vỏ Mỹ, lõi Nga, tinh thần Việt Nam" - chúng ta tiếp thu, làm chủ và phát huy. Đến nay, các cán bộ Việt Nam đã và đang xây tiếp ước mơ xây dựng lò phản ứng hạt nhân module nhỏ, mục tiêu có 8-10 tổ máy trước năm 2035, và làm chủ công nghệ vào năm 2040. Đây là minh chứng cho khả năng "đứng trên vai những người khổng lồ bằng chính đôi chân của mình" mà tôi luôn nhấn mạnh. Và đây cũng chính là con đường mà Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về năng lượng quốc gia đã chỉ rõ: từng bước làm chủ công nghệ điện hạt nhân.


- Ông từng giữ vị trí quan trọng tại Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO). Từ kinh nghiệm làm việc với các cường quốc, bài học lớn nhất về việc chuyển giao công nghệ cho Việt Nam là gì?
GS.TS Trần Hồng Thái: Hợp tác quốc tế không phải chỉ là những chuyến thăm quan hay ký kết biên bản ghi nhớ màu mè. Hợp tác thực sự phải dẫn đến việc "hấp thụ" được công nghệ lõi. Trong ngành Khí tượng Thủy văn hay công nghệ hạt nhân, đối tác nước ngoài mang máy móc hiện đại vào, nhưng nếu chúng ta không có đội ngũ đủ tầm để hiểu "phần lõi", chúng ta chỉ là những người vận hành máy thuê. Khi máy hỏng hoặc hết hợp đồng, chúng ta lại quay về con số không.
Tôi luôn yêu cầu đối tác phải chuyển gia quy trình tính toán, thuật toán chứ không chỉ là kết quả đầu ra. Tại Lâm Đồng, tôi đã nói với các nhà đầu tư FDI: Các bạn vào đây đầu tư, chúng tôi chào đón và tạo điều kiện, nhưng các bạn phải giúp đào tạo đội ngũ kỹ sư tại chỗ và chia sẻ thị trường.
- Thưa Giáo sư, "chủ quyền công nghệ" đang trở thành khái niệm then chốt. Việt Nam đang thu hút đầu tư vào công nghệ bán dẫn, lộ trình nào là phù hợp?
GS.TS Trần Hồng Thái: Chủ quyền công nghệ là nền tảng cho sự phát triển tự chủ. Dự án chiết thanh thép từ bùn đỏ bauxite tại Tây Nguyên là ví dụ. Các nhà khoa học Viện Hàn lâm đã nghiên cứu thành công quy trình xử lý chất thải khó này, vừa giải quyết vấn đề môi trường, vừa tạo ra giá trị kinh tế. Khi làm chủ công nghệ, chúng ta mới có tiêu chuẩn để quản lý và phát triển bền vững.
Với công nghệ bán dẫn, chúng ta cần tư duy thực tế và dài hạn. Việt Nam có thể tiếp cận và làm chủ công nghệ chip ở các mức độ phù hợp, từ 28nm đến 90nm, phục vụ cho các ứng dụng cụ thể của công nghiệp và nền kinh tế. Quan trọng là tư duy hệ sinh thái: thiết kế, sản xuất, kiểm thử, đóng gói. Việt Nam cần xác định được những mắt xích then chốt mà mình có thể làm chủ và tạo giá trị không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.


- Thưa Giáo sư, Đại hội XIV đã mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Viện Hàn lâm định hướng thế nào để đáp ứng kỳ vọng vào phát triển bằng khoa học công nghệ trong giai đoạn này?
GS.TS Trần Hồng Thái: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đòi hỏi khoa học phải thực sự trở thành động lực, không còn là "tháp ngà" xa rời thực tiễn. Viện Hàn lâm với các Viện, trung tâm, trường Đại học và hơn 3.000 cán bộ khoa học - đây là tài sản trí tuệ quốc gia - phải trở thành cơ quan tư vấn chiến lược hàng đầu cho Trung ương, Chính phủ, các bộ ngành và doanh nghiệp. Đặc biệt, phải hành động với phương châm "không chỉ tư vấn khi được hỏi, mà phải chủ động dự báo, cảnh báo và đề xuất giải pháp".
Ví dụ, để phát triển kinh tế biển, tư vấn cho Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành trong xây dựng chính sách phục vụ phát triển kinh tế biển, Viện Hàn lâm phải có các nhóm liên ngành về địa chất biển, tài nguyên, luật quốc tế và công nghệ khai thác để cung cấp luận cứ khoa học vững chắc. Trước biến đổi khí hậu, Viện Hàn lâm phải có kịch bản cụ thể cho từng vùng, từng ngành. Trước cuộc cạnh tranh công nghệ toàn cầu, Viện Hàn lâm phải có bản đồ công nghệ để định hướng đầu tư quốc gia. Đó chính là vai trò “bộ não quốc gia” - biến tri thức thành quyền lực mềm, thành sức mạnh quốc gia.


- Một vấn đề nhức nhối mà các nhà khoa học thường xuyên kêu ca là cơ chế quyết toán tài chính. Theo ông, cần làm gì để thay đổi tư duy quản lý "khoa học kiểu thương lái"?
GS.TS Trần Hồng Thái: Đây là cuộc đấu tranh cam go nhất. Khoa học là sáng tạo, mà sáng tạo thì cần không gian để "thở". Hiện nay chúng ta đang quản lý kinh phí khoa học theo kiểu: Bỏ ra 1 đồng vốn phải thu về ngay 1 đồng lãi sau 3 năm. Điều này rất vô lý!
Thứ nhất chúng tôi xác định đầu tư cho khoa học là đầu tư cho tiềm lực quốc gia. Khi một nhà khoa học nghiên cứu thành công một quy trình, có thể họ không bán được tiền tỷ ngay, nhưng họ giúp hàng nghìn doanh nghiệp giảm giá thành, giúp hàng triệu nông dân tăng năng suất. Cái lãi đó nằm ở sự tăng trưởng GDP, ở tiền thuế thu lại cho Nhà nước sau này. Viện Hàn lâm phải trở thành một "sandbox" thực sự về cơ chế tự chủ, cơ chế cho phép các nhà khoa học có sai số, có thể hợp tác với doanh nghiệp với các phòng thí nghiệm mở, cơ chế mở để đồng sở hữu, đồng khai thác….
Thứ hai là chuyển đổi định hướng nghiên cứu. Sáu năm qua, số lượng bằng sáng chế của Viện đã tăng gấp đôi - đó là minh chứng cho việc chúng ta đang chuyển pha từ nghiên cứu để công bố sang nghiên cứu để làm chủ công nghệ, để có những sản phẩm mà xã hội và doanh nghiệp thực sự cần.
Chúng tôi đã xây dựng các nhóm nghiên cứu liên ngành, vì các bài toán thực tế không bao giờ nằm gọn trong một chuyên ngành đơn lẻ. Để giải quyết sạt lở hay nhà kính ở Đà Lạt, cần cả địa chất, khí tượng, hóa học, sinh học và lâm nghiệp. Viện Hàn lâm xác định hoạt động để đồng hành giải quyết các vấn đề của đất nước - đó chính là ý nghĩa của khoa học trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


- Sau tất cả những chức vụ và áp lực điều hành, điều gì là "nguyên bản" nhất vẫn còn giữ lại trong tâm hồn ông? Và lời nhắn gửi của ông trong giai đoạn "không để một ngày lãng phí, một tuần chậm trễ" này?
GS.TS Trần Hồng Thái: Là niềm tin vào tri thức và vào sức mạnh của hành động. Giai đoạn 5-10 năm tới là giai đoạn bản lề có ý nghĩa quyết định. Nếu chúng ta tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, chắc chắn đất nước sẽ cất cánh mạnh mẽ. Ngược lại, nếu để lỡ thời cơ hoặc chậm trễ, cái giá phải trả sẽ rất đắt - có thể đánh mất cơ hội của cả dân tộc.
Tôi luôn nói với anh em: Tiền tài tiêu là hết, chỉ có tri thức và những gì ta đóng góp cho cuộc đời là còn mãi. Khoa học là con đường gian khổ nhưng hạnh phúc. Khi bạn nhìn thấy công nghệ của mình giúp ích cho hàng vạn người nông dân, đó là phần thưởng không tiền bạc nào mua được.
Với tinh thần "mỗi người làm việc bằng hai" với tri thức mới, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, dưới ánh sáng soi đường của Đảng, chúng ta hành động với ý chí kiên cường - thì hiệu quả sẽ gấp mười, gấp trăm lần. Đó chính là tinh thần "Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!" mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo và chúng ta cần biến thành hành động mỗi ngày, mỗi giờ.
- Xin cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện đầy tâm huyết này!
