GS.VS Trần Đại NghĩaKì 1: Chiếc nôi gia đình và cậu bé mồ côi nơi sông Mang Thít
Cuộc đời Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là bản anh hùng ca rực rỡ về trí tuệ Việt Nam. Từ cậu bé mồ côi nghèo khó ở miền Tây Nam Bộ đến "ông vua" vũ khí của nền khoa học quân sự nước nhà, ông đã cống hiến trọn vẹn tài năng, tâm huyết cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc, để lại di sản vô giá cho muôn đời sau.

Lễ phải trở thành trụ cột của gia đình. Có má chăm lo dạy bảo, Lễ phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời.
Cụ Phạm Văn Mùi

Nhân kỉ niệm 80 năm, ngày Giáo sư Trần Đại Nghĩa về nước phục vụ Cách mạng, Một Thế Giới đăng tải loạt bài viết khắc họa chân thực và toàn diện cuộc đời, nhân cách cao đẹp cùng những đóng góp vĩ đại của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng quân đội, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa. Từ chiếc nôi gia đình đầm ấm ở Vĩnh Long, những năm tháng vượt khó tự học, quyết định từ bỏ vinh hoa phú quý ở trời Âu để theo Bác Hồ về nước, cho đến những sáng chế quân giới chấn động chiến trường và lối sống vô cùng bình dị. Hành trình ấy là nguồn cảm hứng lớn lao, khẳng định trí tuệ Việt Nam luôn đủ sức vươn tới đỉnh cao nhân loại để phụng sự non sông.
Nhắc đến Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, người ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh một nhà khoa học quân sự lỗi lạc, "ông vua" vũ khí với những phát minh làm thay đổi cục diện chiến trường trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Thế nhưng, ít ai biết rằng, đằng sau một trí tuệ thiên tài vươn tầm thế giới ấy lại là một cuộc đời khởi đầu từ những trang nghèo khó, cay đắng và thấm đẫm tình mẫu tử, tình chị em thiêng liêng nơi vùng quê miền Tây Nam Bộ đầy nắng gió.
Cậu bé xứ Vĩnh Long và lời trăn trối định mệnh
Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913 tại quê ngoại là làng Chánh Hiệp, quận Tam Bình (nay thuộc xã Hòa Hiệp, tỉnh Vĩnh Long). Ông sinh ra trong một gia đình nhà giáo nghèo nhưng giàu truyền thống văn hóa, hiếu học và lòng yêu nước nồng nàn. Ông là người con trai thứ hai của ông giáo Phạm Văn Mùi và bà Lý Thị Diệu, trên ông còn có người chị gái Phạm Thị Nhẫn lớn hơn hai tuổi.
Thuở thiếu thời, Phạm Quang Lễ có một mái ấm êm đềm, hạnh phúc dưới sự dạy dỗ ân cần của người cha uyên thâm. Ông giáo Mùi không chỉ là người thầy truyền thụ kiến thức vỡ lòng mà còn là người bạn thân thiết, rèn cho con tính tự lập, lòng tự trọng và niềm đam mê học tập từ những điều nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày.
Nhưng biến cố lớn đã ập xuống gia đình khi Phạm Quang Lễ vừa tròn bảy tuổi, độ tuổi còn quá nhỏ để có thể thấu hiểu hết những đau thương, mất mát của sự chia li vĩnh viễn. Người cha kính yêu qua đời để lại người vợ trẻ cùng hai con thơ dại bơ vơ giữa dòng đời. Trước lúc đi xa, ông giáo Mùi để lại lời căn dặn khắc cốt ghi tâm cho đứa con trai út:
Quanh ta bao nhiêu người nghèo khổ, lớn lên các con có thể làm nghề dạy học như ba, cũng có thể làm nghề khác. Nhưng chỉ làm nuôi bản thân thì chưa đủ, nhất là Lễ phải trở thành trụ cột của gia đình. Có má chăm lo dạy bảo, Lễ phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời.
Lời trăn trối đầy đượm tình thiêng liêng đó đã trở thành kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi sáng suốt cả cuộc đời của Phạm Quang Lễ. Dưới sự dìu dắt ban đầu của cha, cậu bé Lễ đã sớm hình thành ý thức tự giác, tinh thần hiếu học và sự kính trọng tuyệt đối đối với tri thức nhân loại, xem việc học không chỉ để thoát nghèo mà còn là trách nhiệm với gia đình và xã hội.
Thử thách nghiệt ngã từ năm bảy tuổi và hành trình tự lập
Sau khi ông giáo Mùi qua đời, nguồn thu nhập chính mất đi hoàn toàn, gia cảnh lâm vào bước đường cùng túng quẫn. Dù được sự quyên góp, giúp đỡ nghĩa tình từ những đồng nghiệp của ông giáo ở trường, bà giáo Lý Thị Diệu vẫn phải đối mặt với bài toán sinh kế quá đỗi nặng nề: Một mình nuôi hai con ăn học chốn thị thành đắt đỏ, trong khi đồng lương dạy học thời thuộc địa vô cùng eo hẹp và bấp bênh.
Thấu hiểu nỗi lòng của mẹ, người chị gái Phạm Thị Nhẫn vốn rất thương em đã chủ động đưa ra một quyết định cao cả, hi sinh cả tương lai của bản thân: Chấp nhận bỏ dở việc học hành để cùng mẹ quay về quê lấm láp ruộng đồng, chăn nuôi, kiếm từng đồng tiền bát gạo lo cho em trai tiếp tục được đến trường. Sự hy sinh thầm lặng của người chị đã đặt nền móng đầu tiên, vô cùng quý giá cho con đường học vấn sau này của cậu bé Lễ.

Từ đây, mới bảy tuổi đầu, Phạm Quang Lễ đã phải chịu cảnh xa mái ấm gia đình, một mình ở lại thị xã Vĩnh Long để tự lập trong sinh hoạt và học tập. Khoảng thời gian đầu xa cách người thân là những tháng ngày bủa vây bởi nỗi cô đơn, tủi hờn và nhớ nhung tột cùng. Có lần, vì quá nhớ má và nhớ chị, cậu bé Lễ đã trốn nhà thầy nuôi, chân không mang dép, đầu không đội mũ, chỉ mặc chiếc áo ngắn tay và quần cộc, bất chấp cái nắng gắt cháy da cháy thịt của miền Tây Nam Bộ để đi bộ ròng rã suốt 20 cây số tìm đường về quê thăm gia đình.
Cảnh tượng cậu con trai đột ngột xuất hiện rách rưới, mệt lả sau chặng đường dài khiến bà giáo và chị Nhẫn òa khóc nghẹn ngào trong sự xót xa tột độ. Ôm đứa con trai vào lòng, người mẹ vừa thương vừa lo lắng khôn nguôi, tự hỏi không biết những vất vả cực nhọc của bà liệu có hoài công khi đứa con thơ phải chịu đày ải trên con đường đi tìm con chữ. Nhưng khi nhìn lại người má và người chị thân thương nay đã gầy guộc, đen sạm đi vì công việc đồng áng nhọc nhằn - tất cả cũng chỉ vì tương lai của mình - lòng Lễ trào dâng một nỗi ân hận, xấu hổ và thương cảm khôn tả.
Trở lại trường, mang theo quyết tâm học thật giỏi nhằm đền đáp ơn sinh thành và sự hi sinh quên mình của chị gái thân yêu. Nhờ những lời dặn dò ấy, Lễ càng thêm vững vàng trước mọi giông bão cuộc đời, biến nỗi buồn thành sức mạnh nội tại to lớn.
Phạm Quang Lễ đã trải qua bậc học tiểu học tại Trường Internat Primaire (nay là Trường THPT Lưu Văn Liệt, tỉnh Đồng Tháp) với kết quả tốt nghiệp loại giỏi và thi đỗ hạng ưu vào Trường Collège De My Tho (nay là Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp). Tại đây, ông nhận được học bổng 4 năm liền.
Năm 1930, ông theo học tại Trường Pétrus Ký (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong, TP. Hồ Chí Minh) và cũng tiếp tục nhận được học bổng 3 năm liền. Với nỗ lực vượt bậc, năm 1933, ông xuất sắc đỗ thủ khoa cả hai bằng tú tài: Tú tài Bản xứ và Tú tài Tây - một thành tích phi thường của một chàng trai thanh niên tỉnh lẻ, hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ảnh tư liệu
Để có được thành tích cao như thế, không chỉ đơn thuần là nhờ tư chất thông minh, mà một phần là nhờ sự siêng năng, cần mẫn, sắp xếp thời gian biểu một cách logic, khoa học và hơn hết là ý thức, nghị lực vượt khó vươn lên của Phạm Quang Lễ. Ngoài giờ lên lớp, ông thường ngồi trong phòng nghiền ngẫm các bài học, tự đọc thêm sách để bổ sung và hệ thống lại kiến thức đã học.
Riêng đối với môn Toán, Phạm Quang Lễ có một sở thích là nghiên cứu, tìm ra các phương pháp giải khác nhau, đồng thời đặt ra cho mình yêu cầu là với một bài toán thì phải tìm cho được nhiều cách giải, phải đi đến một đáp số đúng, gọn nhất, hay nhất.
Nói về khả năng giải toán của Phạm Quang Lễ, Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng (bạn học của Phạm Quang Lễ ở Trường Péstrus Ký) kể rằng: “Ở trong lớp không ai nghèo như Lễ, có thể nói là nghèo nhất trường, nhưng cũng không ai học giỏi như Lễ, đặc biệt là môn Toán. Có lần, thầy giáo đang giải một bài toán khó thì bí. Thầy gọi Lễ lên bảng giải tiếp. Lễ lên bảng cứ lặng lẽ viết các cách giải khác nhau mà cậu ta đã say sưa tìm tòi trước đó. Khi ấy, thầy giáo người Pháp vừa ngạc nhiên, vừa cảm phục và nói rằng cậu học sinh này rồi sẽ tiến xa”.
Điểm tựa vững chắc của hai người phụ nữ phi thường
Sự hi sinh của người mẹ và người chị Nhẫn chính là bệ phóng đầu tiên nuôi dưỡng nên một vĩ nhân tương lai của đất nước. Dù cuộc sống sau này có chuyển lên Mỹ Tho hay khi chị Nhẫn không may gặp nạn qua đời giữa dòng sông Mang Thít lạnh lẽo khi tuổi đời còn rất trẻ (27 tuổi), để lại niềm đau thương vô hạn, hình bóng và những kì vọng của gia đình vẫn luôn là điểm tựa tâm hồn vững chắc nhất cho Phạm Quang Lễ trên mỗi chặng đường đi tới những chân trời tri thức mới.
Chính hoàn cảnh cay đắng và tình yêu thương vô bờ bến từ má và chị đã tôi luyện nên ở Phạm Quang Lễ một bản lĩnh thép: Không bao giờ khuất phục trước bất kỳ nghịch cảnh nào, sớm hình thành tinh thần tự lập, sự kiên cường và trên hết là trái tim luôn hướng về cội nguồn, vì gia đình và rộng lớn hơn là vì giang sơn, Tổ quốc. Cuộc đời của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa sau này, với tất cả sự vĩ đại và tận hiến cho nền khoa học quân sự cách mạng, đều có bóng hình của những hy sinh thầm lặng nơi quê nhà Vĩnh Long năm tháng ấy, trở thành biểu tượng sáng ngời cho thế hệ mai sau học tập, noi theo và tự hào nhắc nhớ.