Hồ Anh Thái 'nhặt' được 'Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân'
Đọc cuốn sách mới “ra lò” của nhà văn Hồ Anh Thái, dày 469 trang, chữ hơi nhỏ, trong ba ngày liền không rời, nghĩa là nó cuốn hút ghê gớm, đủ sức lôi tôi ra khỏi giá vẽ và cả giấc ngủ của hai đêm.
Một câu chuyện được kể trong Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân, nếu tóm tắt thì rất ngắn: trong khách sạn sân bay, người đàn ông nhặt được một tập bản thảo, in ấn đóng xén như một cuốn sách thông thường. Nhưng đọc xong tập bản thảo thì mọi biến cố xảy ra sau đó dẫn anh ta vào một tình huống: ta đọc một cuốn sách bất kỳ rồi phát hiện ra rằng ta có thể chính là người viết ra cuốn sách ấy.
“Một khi tác phẩm vượt quá lãnh địa của nhà xuất bản, tác phẩm trao quyền định giá cho người nào có dịp đọc nó...”.
Nhưng câu chuyện ấy trải dài gần 500 trang sách, trang nào cũng khiến ta khóc, cười, ngạc nhiên và thú vị, bởi ta thấy lấp lánh những hạt tri thức mà cây bút đầy “ma thuật” của Hồ Anh Thái như vô tình đặt vào giữa câu chuyện ấy.

Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân kể về việc một “anh” bị nhỡ chuyến bay vì cái khái niệm 0 giờ (trong thực tế rất nhiều người bị nhầm, tôi cũng bị một lần như thế). Vé ghi 00:15, tức là người bay phải đến nhà ga từ đêm hôm qua. Nhân đó anh nghĩ về việc giờ thứ 24, thực sự dường như nó chỉ có 1 giây. Từ 23 giờ 59 gì đó, nó nhảy phắt sang 0 giờ… Được “cô hàng không” gợi ý, anh chờ nếu có người bỏ chuyến anh sẽ được bay. Và trong lúc chờ, anh quan sát được ối thứ xảy ra. Trong đó có việc liên quan với một cô chân đầy lông…
Nhân vật của Hồ Anh Thái không có tên người cụ thể (ông Vinh, chị Quang, anh Nam, chị Bắc), mà chỉ là “anh”, là “người giọng nữ trầm”, “chân nhiều lông”, “cô hàng không”, “chị giày đỏ”, hoặc “em bé”, hoặc “mẹ cô ấy”. Thủ pháp này khá đặc biệt, làm nên sự thú vị cho người đọc.
Hồ Anh Thái làm tôi luôn ngạc nhiên, không chỉ kỹ, vô cùng kỹ về chữ và nghĩa, ông luôn làm mới trong những hình thức của câu. Tôi thích thú với những gì ông viết về sự sống và cái chết, triết lý về Phật, về cõi tạm, rất nhẹ nhàng, dễ hiểu, bằng ta đọc hàng trăm trang giáo điều khác.
Ông diễu nhại một nhà sư với “quẻ bói”:
“Anh chỉ còn được sống ba năm nữa thôi. Trong người anh chất độc tương đương ba viên đạn súng ngắn. Nhưng. Biết thì không chết. Tôi. Sẽ chữa. Cho anh. Sẽ. Được 10 năm”.
“…Anh không nói ra miệng nhưng trong lòng thầm đáp lời ông sư. Tôi chưa nhiều tuổi, nhưng thế giới này tôi đi đã nhiều. Tôi đã được đi những nơi tôi muốn, đã được làm công việc mình thích, cho nên khi nào được gọi đi hẳn thì tôi cũng sẵn sàng. Ông là người nhà Phật, ông biết Phật nói gì rồi? Thế giới này chỉ là nơi ta đến thăm trong chốc lát rồi đi.

Đúng thế. Chẳng có du khách nào lấy cớ điểm du lịch này đẹp mà đòi ở lại vĩnh viễn. Dù có thích đến mấy thì hết thời gian thăm viếng, du khách nào cũng phải chia tay để ra về. Cuộc trở về ấy chỉ là sự chuyển kiếp, chỉ là giấc ngủ dài…”.
Đời sống hiện thực ngồn ngộn trong Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân. Từ chuyện trong chùa, ngoài đền: “…chùa chiền bây giờ không còn chỗ cho người ta ngồi một mình mà ngầm nghiền ngẫm, suy tư. Chùa chiền lúc này cũng đông nghịt như gala đại nhạc hội, hội trường phổ biến các quy định bán hàng đa cấp…”.
“…ra khỏi cái trạm ấy rồi, tự nhiên lại tức. Chốn thiêng đền thiêng. Mà chính quyền đâu, lại để bọn làm tiền hoành hành ngang nhiên. Tức. Hết cả cảm hứng. Tự nhiên nổi giận một mình…”, đến chuyện “Việt Minh ta giỏi lắm… Tây lông chết có phải vì chó dữ cắn đâu, Việt Minh đấy…”. Chuyện bà mẹ là dịch giả hẳn hoi mà quên hẳn con, từng có những đứa con…
Đọc, chúng ta sẽ thưởng thức câu chuyện theo cách khác nhau. Nếu quan tâm đến văn hóa tâm linh, đến chính trị, đến thể chế hay đến cung cách sống và làm việc của người Việt, ta cũng nhận ra ngay, dù giọng văn tưng tửng, như thể chỉ phớt qua.
Rồi cũng bâng quơ nhắc về tình trạng báo chí thông tin của hiện tại, anh rất hóm hỉnh gọi khám xét là “kiểm tra an ninh”; “…nhưng mấy ngày sau thì thông tin muộn trên báo chí và trên mạng xã hội mới biết là một kiểu kiểm tra khác, đấy là khám phụ khoa” (trang 25). Nhân việc khám phụ khoa để phát hiện ai vứt thai nhi trong phòng vệ sinh mà ông nói: “…công dân dân chủ tranh thủ thời gian xếp hàng khai sáng văn minh dân chủ cho công dân nước độc tài nhưng thời gian có hạn, cho nên độc tài có vẻ vẫn bền vững…”. Kết cục chẳng tìm ra thủ phạm. Báo chí cũng hăng hái, cũng chỉ hăng hái trong những vấn đề thuần túy nhân quyền… nhưng có vẻ lúng túng trong việc giới tính…
Viết ngon ơ. Chẳng như những tràng giang đại hải của ai đó về khái niệm dân chủ hay độc tài.
Hay chuyện đi du lịch thăm núi lửa, ở đó có ngôi đền thiêng…
Cứ núi nào cao, tháp nào cao đều gọi là Meru. Ngọn đại Meru… “…vừa đi vừa truyền nhau cái huyền thoại từ thế kỷ thứ 15… Vì lời hứa của vua cha với thần linh và lòng dũng cảm giữ lời hứa của chính mình, hoàng tử (người con thứ 25 của vua) đã nhảy vào lòng núi lửa… Nhiều người đến chỗ đó đem theo vật phẩm (hoa quả, bò, gà, quần áo mới…) và lòng tin, họ coi đó là lễ vật, họ ném vào (cái gọi là) miệng núi lửa…
Cô gái đi du lịch leo lên rồi bị ngã bên bờ miệng núi lửa… mọi người hò hét ra sức lôi cô ta lại… Lúc cô ngã dốc đầu xuống, chiếc váy cũng úp ngược xuống như một cái ô bị cơn cuồng phong làm cho cụp ngược… Khi được lôi lên, chiếc váy lại như cái ô cụp lại đúng chiều, anh nhận ra hai cẳng chân bên trong cái váy là cẳng chân đàn ông đầy lông lại còn xoăn xoăn… khiến người đọc sẽ cùng “anh” “…chết đến phao câu cũng vẫn phải cười”.
Đọc đến đấy ta hiểu ra rằng người đời bây giờ nhân rộng các truyền thuyết, các sự tích để lừa, như kiểu sư bói “anh sẽ chết sau 3 năm vì trong đầu anh có độc… và tôi sẽ chữa khỏi cho anh”…; “có người hiến tế thì cũng có người đi hôi, đi nhặt những của hiến tế mà thôi…”.

Ôi, cuốn sách này khiến tôi vừa chết cười, nhớ đến gương mặt điển trai hổ của Hồ Anh Thái, một người mê nhạc, hiểu âm nhạc và thích nghe Lê Dung hát (nghe đi nghe lại không biết chán). Một người làm tròn trách nhiệm nhà ngoại giao ở chức Phó đại sứ thâm trầm. Vừa thấy ông là người thành tinh trong việc sử dụng ngôn ngữ diễu nhại hiếm có.
Ôi ông Thái Phó đại sứ ơi, tôi cứ nghĩ ông hoàn toàn cấm cung trong địa hạt tinh hoa, từ thảm trải phòng đến những bắt tay ngoại giao và nghi lễ cổ điển. Ông không biết gì, không bén mảng gì đến đời sống xã hội lầm than, những chuyện nực cười, những chuyện không thể tin được... Nhưng ông biết quá nhiều. Ông biết hết, chỉ là ông lùi lại để quan sát. Để ông sử dụng những chi tiết đó cho những sáng tác của ông. Và từ đó ông đưa tư tưởng của một trí thức vào một cách bình dị cho các tầng bạn đọc đều có thể hiểu.
Câu chuyện nhẩn nha nhiều chi tiết, nhiều chuyện trong một truyện.
Đoạn cuối - phần Sáu, “Đọc sách khiến ta thành tác giả”, một lần nữa, ông khuyến khích tất cả người đọc chỉ bằng một câu ấy.
Nhà văn Trần Thị Trường
Trở lại chuyện tập bản thảo đến với “anh”, theo trình tự: “Anh nhặt được tấm bản thảo in ấn, đóng xén hoàn chỉnh như một quyển sách trong sảnh lễ tân của sleep post. Tác giả của bản thảo để lại địa chỉ email, mong chờ người nào đọc thì cho ý kiến phản hồi. Anh đọc. Cuốn sách viết về hai thế hệ trong một gia đình. Rồi anh nhận được thư của nhà xuất bản gửi cho anh, thông báo rằng họ quyết định in. Tuy vậy, nhà xuất bản đề nghị anh bổ sung phần viết về thế hệ thứ ba của gia đình. Thư qua thư lại, anh muốn chứng tỏ mình không phải là tác giả. Nhưng việc bức thư dứt khoát đổ về hộp thư của anh lại chứng tỏ nhà xuất bản và ai đó vô hình đều định rõ tác giả là anh…”.
“…Có cái bẫy nào ở đây chăng. Bẫy điện toán? Nhà xuất bản vô hình?... Nhưng nếu anh bấm nút gửi đi, anh chính thức nhận mình là tác giả. Nếu anh không gửi đi, anh cứ giữ lại, bản thảo sẽ được in ra mà không có phần viết về thế hệ thứ ba. Câu chuyện về một gia đình sẽ không trọn vẹn. Thiệt thòi cho nhà xuất bản, thiệt thòi cho độc giả, thiệt thòi cho tác giả.
Mà hình như tác giả là anh. Trong một giấc mơ nào đó hoặc trong một cảnh giới nào đó, anh đã viết sách, đã in ấn thành năm bản rồi đi, bỏ vào sảnh lễ tân khách sạn, bỏ vào câu lạc bộ, bỏ vào văn phòng du lịch. Anh đã chờ năm này qua năm khác xem có ai gửi lời nhận xét đến cho mình không.
Anh không còn tin vào các nhà xuất bản. Họ chỉ có mỗi việc treo biển nhà xuất bản lên, xin nhà nước cái trụ sở, rồi họ ngồi vào đó và đeo khẩu trang im lặng. Bản thảo gửi đến, họ nhận được và im lặng. Tác giả hỏi ý kiến thì họ lắc đầu. Sai lắc. Im thin thít. Hoặc sai lắc giờ chỉ anh còn hy vọng vào phán quyết của những người đọc vô hình.
Anh nhớ có nhà văn lớn từng nói, nhà văn làm nên nhà xuất bản và nhà xuất bản làm nên nhà văn. Ở xứ này thì nhà văn không làm nên nhà xuất bản, mà nhà xuất bản cũng không làm nên nhà văn…”.
Đọc đến đây, tôi muốn dừng lại để khóc đã. Vì hay. Vì trúng và đúng. Xứ này là xứ nào, tùy bạn đọc hiểu thôi.
Nhà văn Trần Thị Trường
Văn của Hồ Anh Thái lôi cuốn người đọc trước hết bởi, như đã nói, anh sử dụng thủ pháp hiện thực huyền ảo (như người ta vẫn gọi - một thi pháp thực thực ảo ảo). Các chi tiết có thực ở đời thường được sử dụng rất sống động, hài hước và dí dỏm nhờ quan sát kỹ lưỡng, miêu tả sáng sủa, cuốn hút. Giọng văn có nhạc tính, đọc rất dễ chịu như một cuốn thơ, nhưng nó chuyên chở những điều to lớn và căn bản của tư tưởng, của thái độ nhà văn.
Vì thế câu chuyện kéo dài mà không nhàm chán.
Không dễ gì để làm được như thế. Ví như trong hội họa, vẽ hiện thực cổ điển đã khó; hiện thực mà pha ấn tượng, sử dụng bút pháp biểu hiện lại càng khó. Sao cho người thưởng thức tác phẩm chỉ dùng trực giác cũng hiểu, mà dùng cả lý trí cùng những kinh nghiệm kỹ thuật ở tầng “smart” cũng thích thú là một điều vô cùng khó.
Tôi thấy cuốn sách này của Hồ Anh Thái nó như thế, khiến cho người ta không thể nhàm chán và càng ngắm, càng đọc càng thích. Đọc lần sau lại phát hiện thêm một tầng ngữ nghĩa nữa.
Cần nói thêm, trong sách, Hồ Anh Thái có trích dẫn ca từ của một số ca khúc. Nhân thể nó nằm trong câu chuyện của anh thì anh nhắc đến, như một thứ gia vị cho một món ăn đẳng cấp. Đọc sách của Hồ Anh Thái, tôi lại nhớ đến những nhạc sĩ Hoàng Vân, Nguyễn Tài Tuệ… Tác phẩm của họ sử dụng nhiều chất liệu dân gian, nhưng toàn thể cả nhạc và lời đều là hàn lâm, bác học. Vì thế nên những tác phẩm ấy đi cùng năm tháng, dù bất cứ vang lên trong giai đoạn lịch sử nào, thể chế nào…
Thông tin về nhà văn - nhà ngoại giao Hồ Anh Thái
Sinh năm 1960, Hồ Anh Thái không chỉ là nhà văn mà còn là một nhà ngoại giao, từng là Phó đại sứ ở Iran. Chính những năm tháng công tác tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Ấn Độ, đã mang đến cho sáng tác của ông một chiều kích văn hóa rộng mở, nơi các yếu tố phương Đông, phương Tây, hiện đại và huyền thoại giao thoa một cách độc đáo.

Về tác phẩm, Hồ Anh Thái có một khối lượng sáng tác phong phú, đa dạng về thể loại. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như: Người đàn bà trên đảo; Cõi người rung chuông tận thế; Mười lẻ một đêm; Đức Phật, nàng Savitri và tôi; Tự sự 265 ngày; Bốn lối vào nhà cười.