Thời sự

Hỗ trợ 50% lãi suất vay của NATIF giải bài toán vốn công nghệ

Nam Phong 15/07/2026 13:01

Cơ chế hỗ trợ 50% lãi suất vay từ Quỹ NATIF là cú hích thiết thực, giúp các doanh nghiệp tháo gỡ điểm nghẽn vốn và mạnh dạn dấn thân vào công cuộc đổi mới.

Nhu cầu đầu tư nâng cấp và đổi mới công nghệ đang là đòi hỏi cấp bách đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó gánh nặng chi phí lãi vay thực tế là một trong những rào cản trọng yếu nhất. Để hiểu rõ hơn về tính thực tiễn cũng như lộ trình triển khai cơ chế hỗ trợ 50% lãi suất vay này, tạp chí Một Thế Giới đã có buổi phỏng vấn Tiến sĩ Trần Văn Tùng - Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN).

Đánh giá chuyên sâu về hỗ trợ 50% lãi suất vay của NATIF

- Thưa Tiến sĩ, ông đánh giá thế nào về động thái mới đây của Bộ KH&CN và Quỹ NATIF trong việc thúc đẩy phương án hỗ trợ lãi suất vay cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ? Liệu đây có phải là "liều thuốc" đúng chỗ mà cộng đồng doanh nghiệp đang chờ đợi?

TS. Trần Văn Tùng - hỗ trợ 50% lãi suất vay
TS. Trần Văn Tùng phát biểu tại hội nghị lấy ý kiến về triển khai nhiệm vụ hỗ trợ lãi suất vay của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) do Bộ KH&CN tổ chức ngày 10/7. Ảnh: NP

TS. Trần Văn Tùng: Tôi cho rằng đây là một chủ trương rất đúng hướng, kịp thời và trúng vào "nỗi đau" lớn nhất của doanh nghiệp trong hành trình đổi mới sáng tạo hiện nay. Chúng ta đều biết, muốn phát triển kinh tế số, muốn nâng cao năng suất hay hội nhập sâu rộng, doanh nghiệp bắt buộc phải đổi mới công nghệ, dây chuyền sản xuất. Nhưng rào cản lớn nhất không nằm ở ý tưởng hay quyết tâm của doanh nghiệp, mà nằm ở nguồn vốn.

Lãi suất thương mại trong những năm qua tuy có giảm nhưng gánh nặng chi phí tài chính vẫn rất nặng nề, khiến nhiều đơn vị dù rất muốn đầu tư máy móc mới cũng phải chần chừ, đắn đo. Việc Quỹ NATIF thiết kế cơ chế hỗ trợ 50% lãi suất vay (với trần tối đa 6%/năm) chính là một cú hích tài chính trực tiếp, giúp chia sẻ gánh nặng rủi ro và chi phí vốn với doanh nghiệp. Đây chính là đòn bẩy thiết thực để họ mạnh dạn "dấn thân" vào công nghệ mới.

- Bản thân cơ chế Nhà nước không trực tiếp cấp phát vốn mà đóng vai trò hỗ trợ lãi suất kết hợp cùng hệ thống ngân hàng thương mại được kì vọng sẽ giải quyết bài toán khơi thông nguồn vốn ra sao, thưa ông?

TS. Trần Văn Tùng: Đây chính là điểm sáng và là tư duy đổi mới trong phương thức quản lí nhà nước mà chúng ta cần hoan nghênh. Trước đây, nếu Nhà nước cứ ôm đồm việc cấp phát vốn trực tiếp hoặc tự đứng ra thẩm định cho vay, chúng ta sẽ vấp phải hai điểm nghẽn lớn: thứ nhất là nguồn lực ngân sách có hạn không thể đáp ứng nhu cầu, thứ hai là cơ quan quản lí nhà nước không có chuyên môn và mạng lưới nghiệp vụ tốt như các tổ chức tín dụng trong việc thẩm định hiệu quả dự án hay thu hồi nợ.

Bằng cách chọn mô hình phối hợp hiện nay, Nhà nước không làm thay ngân hàng, cũng không làm thay doanh nghiệp chủ đầu tư. Ngân hàng thương mại bằng năng lực chuyên môn của mình sẽ thực hiện việc thẩm định dự án ngặt nghèo, cho vay và kiểm soát dòng tiền, đảm bảo đồng vốn tín dụng xã hội được phân bổ thực chất.

Nhà nước chỉ đóng vai trò mồi lửa, hỗ trợ một phần chi phí lãi vay. Cách làm này vừa huy động được nguồn lực khổng lồ từ xã hội, vừa nâng cao rõ rệt hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời giảm thiểu tối đa rủi ro thất thoát hay nợ xấu.

- Kế hoạch thí điểm ban đầu đặt ra tiêu chuẩn khá cao như xếp hạng tín nhiệm mức A- từ ngân hàng hoặc cam kết tăng giá trị gia tăng tối thiểu 7%. Theo ông, các tiêu chí này có làm thu hẹp "cửa" tiếp cận của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)?

TS. Trần Văn Tùng: Chúng ta phải hiểu rằng đây là giai đoạn thí điểm với quy mô giới hạn 20 doanh nghiệp. Khi làm thí điểm, việc đặt ra các tiêu chuẩn sàng lọc khắt khe như xếp hạng tín nhiệm A- hay mức tăng trưởng giá trị gia tăng tối thiểu 7% là điều dễ hiểu và cần thiết để đảm bảo tính an toàn, hiệu quả bước đầu.

Ảnh màn hình 2026-07-15 lúc 12.30.20

Cơ quan quản lí cần những "đầu tàu" có năng lực tài chính và quản trị thực sự tốt để đo lường tính khả thi, chuẩn hóa quy trình phối hợp trước khi nhân rộng. Tuy nhiên, góc nhìn của tôi là không được dừng lại ở sự khắt khe đó. Khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) mới thực sự là đối tượng khát vốn đổi mới công nghệ nhất, nhưng họ lại là nhóm yếu thế nhất về tài sản đảm bảo và lịch sử tín dụng.

Do đó, sau giai đoạn tổng kết thí điểm vào tháng 09/2026, Quỹ NATIF và Bộ KH&CN cần nghiên cứu, nới lỏng hoặc thiết kế các tiêu chí linh hoạt hơn, ví dụ như có cơ chế bảo lãnh tín dụng riêng hoặc dựa trên chính hiệu quả tiềm năng của dự án công nghệ thay vì chỉ dựa vào tài sản đảm bảo truyền thống. Có như vậy, chính sách mới thực sự đi vào đời sống của đại đa số doanh nghiệp.

- Quy định tạm dừng hỗ trợ ngay khi phát sinh nợ quá hạn nhằm bảo vệ ngân sách nhà nước, nhưng làm thế nào để tránh việc chính sách bị đứt gãy đối với những doanh nghiệp gặp khó khăn dòng tiền khách quan, thưa ông?

TS. Trần Văn Tùng: Nguyên tắc quản lí tài chính công là phải chặt chẽ, khi doanh nghiệp nợ quá hạn thì việc tạm dừng hỗ trợ là đúng quy định để bảo vệ nguồn vốn nhà nước. Nhưng trên thực tế thương trường, doanh nghiệp đôi khi vấp phải những biến động bất khả kháng về thị trường, đứt gãy chuỗi cung ứng dẫn đến tắc nghẽn dòng tiền ngắn hạn.

Theo tôi, cơ chế hậu kiểm và giám sát của Quỹ NATIF cần phải có độ nhạy và sự linh hoạt nhất định. Thay vì cắt đứt ngay lập tức, ngân hàng cho vay và Quỹ cần phối hợp để đánh giá nguyên nhân chậm trả nợ. Nếu đó là khó khăn tạm thời nhưng dự án công nghệ vẫn có tiềm năng phục hồi tốt và doanh nghiệp có thiện chí xử lí, chúng ta nên có cơ chế khoanh vùng, giãn thời gian xem xét hoặc khôi phục hỗ trợ sau khi họ tái cấu trúc được dòng tiền. Tính nhân văn và sự đồng hành của nhà nước trong lúc doanh nghiệp khó khăn nhất chính là yếu tố tạo nên sức sống lâu bền cho chính sách.

- Để quy trình phối hợp 8 bước giữa Doanh nghiệp - Quỹ NATIF - Ngân hàng diễn ra trơn tru, minh bạch và không biến thành gánh nặng thủ tục hành chính, theo ông, các bên cần lưu ý những điểm cốt lõi nào?

TS. Trần Văn Tùng: Để đi đường dài và đảm bảo vận hành trơn tru, yếu tố số hóa quy trình là rất quan trọng. Toàn bộ các bước phối hợp từ nộp hồ sơ, thẩm định cho đến giải ngân giữa Doanh nghiệp, Quỹ NATIF và ngân hàng phải được thực hiện trên một nền tảng số liên thông, thủ tục trực tuyến đơn giản, giảm thiểu tối đa phiền hà về giấy tờ và thời gian chờ đợi.

Bằng cách chọn mô hình phối hợp hiện nay, Nhà nước không làm thay ngân hàng, cũng không làm thay doanh nghiệp chủ đầu tư. Ngân hàng thương mại bằng năng lực chuyên môn của mình sẽ thực hiện việc thẩm định dự án ngặt nghèo, cho vay và kiểm soát dòng tiền, đảm bảo đồng vốn tín dụng xã hội được phân bổ thực chất.

TS. Trần Văn Tùng

Sự minh bạch về mặt dữ liệu và rõ ràng trong trách nhiệm từng khâu sẽ giúp các bên tiết kiệm tối đa chi phí tuân thủ, biến quy trình hành chính thành một dịch vụ hỗ trợ thực chất cho khối sản xuất.

- Từ kinh nghiệm điều hành thực tế, ông có khuyến nghị chiến lược gì để chương trình không chỉ thành công trong giai đoạn thí điểm mà còn tạo tiền đề để nhân rộng đại trà?

TS. Trần Văn Tùng: Để đi đường dài, có 3 yếu tố cốt lõi mà các cơ quan thực thi phải làm thật tốt: Thứ nhất là minh bạch và số hóa quy trình để giảm thiểu phiền hà. Thứ hai là năng lực hậu kiểm và đánh giá thực tiễn; quá trình thí điểm phải bám sát sao kê từng ngày để đo lường cụ thể năng suất tăng bao nhiêu phần trăm hay công nghệ có tạo ra lợi thế cạnh tranh hay không, làm căn cứ bảo vệ ngân sách lớn hơn. Thứ ba là sự gắn kết trách nhiệm ba bên dựa trên lòng tin và sự rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ.

Khi ngân hàng an tâm, Nhà nước hiệu quả và doanh nghiệp nhẹ gánh, chính sách hỗ trợ lãi suất vay sẽ thực sự lan tỏa rộng khắp, giúp tháo gỡ điểm nghẽn vốn cho cộng đồng doanh nghiệp.

- Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!

Nổi bật
      Mới nhất
      Hỗ trợ 50% lãi suất vay của NATIF giải bài toán vốn công nghệ
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO