-
15/10/2026 17:15 Doanh nghiệp và nhà khoa học phải thúc đẩy hợp tác nhiều hơn
Phát biểu bế mạc Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hoá công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số", ông Vũ Anh Tuấn - Cục Phó Cục Thông tin - Thống kê và Đánh giá khoa học khẳng định: "Sau 3 giờ làm việc nghiêm túc, khoa học, tâm huyết, trách nhiệm, Hội thảo đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các chuyên gia thẳng thắn mổ xẻ, chỉ rõ điểm nghẽn, đưa ra giải pháp để đưa sản phẩm từ phòng lab ra thị trường.
Thông điệp cốt lõi là trong kỷ nguyên số, chúng ta cần mạnh dạn, quyết liệt hơn nữa, không để các đề tài nằm trong ngăn kéo.

Ông Vũ Anh Tuấn - Cục Phó Cục Thông tin - Thống kê và Đánh giá khoa học phát biểu bế mạc hội tháo. Ảnh: Hà Tuấn Chúng ta cần lưu ý thông tin: Số sáng chế được thương mại hoá của thế giới lúc này chỉ khoảng 5%. Đối với Việt Nam, chúng ta mới chỉ đạt khoảng không phẩy mấy phần trăm. Điều đó nói lên để thương mại hoá sáng chế là một vấn đề lớn! Đặc biệt khi theo nghị quyết 57, đến năm 2030, thương mại hoá sáng chế của Việt Nam yêu cầu đạt 8%, và chắc chắn các doanh nghiệp và nhà khoa học phải thúc đẩy hợp tác nhiều hơn.
Các ý kiến đóng góp tâm huyết hôm nay của các diễn giả trong phần tham luận và đặc biệt phần thảo luận bàn tròn sẽ được ban tổ chức tổng hợp, tham mưu giúp các cơ quan ban ngành hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển, đột phá trong lĩnh vực khoa học công nghệ nói chung và công nghệ sinh học nói riêng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Các vị lãnh đạo, đại biểu, diễn giả cùng các thành viên ban tổ chức Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hoá công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số" chụp ảnh lưu niệm, khép lại sự kiện thành công. -
15/10/2026 17:13 Ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS): Bài học từ Công nghệ Vaccine mRNA
Công nghệ mRNA được khởi xướng bởi các giáo sư đạt giải Nobel (như Giáo sư Karikó và Weissman) với bằng sáng chế đăng ký tại Mỹ vào năm 2005, dựa trên nguồn tài trợ khoảng 3 triệu USD từ Chính phủ Mỹ thông qua Đạo luật Bayh-Dole. Trong suốt nhiều năm, công nghệ này không được thị trường đón nhận do rào cản về hạ tầng tiêm chủng truyền thống. Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 bùng phát vào năm 2019-2020 đã trở thành bước ngoặt, khiến các phương pháp sản xuất vaccine truyền thống trở nên không khả thi về mặt thời gian, từ đó mở đường cho công nghệ mRNA được triển khai ngay lập tức với sự hỗ trợ từ chính phủ.
Việc thương mại hóa thành công thông qua các hãng dược lớn như Pfizer và BioNTech đã mang lại doanh thu bản quyền khổng lồ, ước tính Đại học Pennsylvania nhận được khoảng 3 tỷ USD. Theo luật pháp Mỹ, các tác giả sáng chế được hưởng 30% lợi nhuận, một phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực nghiên cứu bền bỉ. Tuy nhiên, các tranh chấp pháp lý đã nảy sinh khi Đại học Pennsylvania kiện Pfizer liên quan đến phạm vi chi trả lợi nhuận trên toàn cầu, với lập luận rằng vaccine được sản xuất tại các quốc gia có bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nên phải trả phí đầy đủ cho cả nhà trường và Chính phủ Mỹ.
Sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ bảo vệ quyền lợi cho tác giả và cơ quan chủ quản mà còn là nền tảng để nhà nước quản lý các công nghệ cốt lõi. Công nghệ sinh học được định vị là một loại "vũ khí" đặc biệt, đòi hỏi sự đầu tư ngân sách ban đầu ổn định và định hướng phát triển đúng đắn từ phía chính phủ. Đối với các nhà khoa học, sự kiên trì cống hiến sẽ được đền đáp xứng đáng thông qua các cơ chế thương mại hóa và quy định tài chính mới.
-
15/10/2026 17:10 Cần có hai công cụ để bảo vệ nhà khoa học gồm tài chính và pháp lý
Trả lời câu hỏi về việc hình thành một chuỗi giá trị kinh tế sinh học khép kín từ nguồn nguyên liệu, công nghệ chiết xuất và chế biến sâu tại viện, trường đến thương mại hóa và xuất khẩu của doanh nghiệp, nếu được lựa chọn một điều quan trọng nhất cần thay đổi ngay sau hội thảo hôm nay, TS. Nguyễn Lê Thu Hà cho biết cần có hai công cụ để bảo vệ nhà khoa học gồm tài chính và pháp lý
. Về tài chính, doanh nghiệp cần CFO vẽ ra bản đồ tài chính xác định rõ vốn ở đâu và phân chia như thế nào . Về pháp lý, nhà đầu tư cần một đơn vị mạnh về chuyên môn để thẩm định, giúp các bên yên tâm hơn . Về phần mình, bà Lê Thị Khánh Vân cho biết nhà khoa học và doanh nghiệp phải đạt nguyên tắc cùng có lợi, cùng win - win. Nhà khoa học có kiến thức và sản phẩm nhưng cần công cụ để đưa ra thực tiễn, đồng thời cần hòa bình với doanh nghiệp
. Ngược lại, doanh nghiệp cũng cần nhìn nhận tầm quan trọng của nhà khoa học thì mới đi đến thành công và thương mại hóa sản phẩm được . -
15/10/2026 17:08 Ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS)
Trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số sâu rộng, bức tranh nghiên cứu khoa học tại Việt Nam đang ghi nhận những chuyển biến tích cực. Không còn dừng lại ở các đề tài cất tủ kính, lực lượng trí thức và các nhà khoa học Việt Nam đã và đang nỗ lực đưa tri thức tiệm cận sát hơn với nhu cầu thực tiễn của thị trường.
.jpg)
Tại phiên thảo luận vừa qua, các diễn giả đã cùng nhìn nhận và phân tích sâu sắc về mô hình liên kết giữa ba nhà: Viện nghiên cứu – Trường đại học – Doanh nghiệp. Những chia sẻ thực tế đã phác họa rõ nét bức tranh đổi mới sáng tạo, nơi các công trình không chỉ dừng lại ở chỉ số công bố quốc tế mà còn tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp cho xã hội.
-
15/10/2026 17:04 PGS.TS. Nguyễn Minh Tân, Trưởng Nhóm chuyên môn Kỹ thuật Quá trình, Khoa Kỹ thuật Hoá học, Trường Hoá và Khoa học Sự sống, Đại học Bách Khoa Hà Nội
Dù hiện nay chúng ta đã được "cởi trói" rất nhiều về mặt cơ chế, thể chế và quyền tự quyết, nhưng ở khía cạnh cụ thể hóa, tôi vẫn mong muốn Nhà nước sớm ban hành các hướng dẫn chi tiết cùng những chương trình cho phép thử nghiệm thực tế (sandbox).

PGS.TS. Nguyễn Minh Tân Khâu vướng mắc lớn nhất hiện nay chính là định giá công nghệ và kết quả nghiên cứu, đặc biệt là khi liên quan đến tài sản công. Mặc dù hành lang pháp lí chung đã có, nhưng chúng ta vẫn chưa có một trường hợp thực tiễn (case study) điển hình nào để chiếu theo. Điều này khiến cộng đồng nghiên cứu và doanh nghiệp dù rất hào hứng nhưng vẫn lúng túng, chưa biết phải triển khai ra sao.
Do đó, tôi đề xuất Nhà nước cần đẩy mạnh các chương trình thử nghiệm và đưa ra quy định cụ thể hơn, từ quy trình thành lập, cơ chế phân định trách nhiệm đến phương pháp định giá.
Liên quan đến câu chuyện định giá, tôi rất đồng tình với ý kiến của chị Vân tuần trước: Giá trị thực sự phải do thị trường quyết định, không thể áp đặt một quy định cứng nhắc. Chúng ta không thể tính toán theo kiểu một đề tài nghiên cứu từng nhận kinh phí 5 tỉ đồng thì kết quả bắt buộc phải định giá tương đương hay cao hơn. Thực tế thương mại hóa có thể thu về 40 tỉ đồng, nhưng cũng có thể chỉ là 2 tỉ đồng.
Một người thầy của tôi, hiện đang giảng dạy về đổi mới sáng tạo tại Mỹ, từng nói một câu rất thực tế: "Giá trị của một kết quả nghiên cứu khoa học chính là mức giá mà thị trường sẵn sàng trả và người bán đồng ý giao dịch". Ví dụ, một công nghệ dù được kỳ vọng 10 tỉ đồng, nhưng nếu nhà đầu tư trả 2 tỉ đồng và bên sở hữu đồng ý bán, thì 2 tỉ đồng đó chính là giá trị thực tế của công nghệ, không có lí thuyết nào thay thế được.
Tóm lại, giới khoa học và cộng đồng startup rất cần các chương trình thử nghiệm chính thức từ Nhà nước để tạo ra một vài case study chuẩn mực. Đây sẽ là căn cứ thực tiễn quan trọng giúp các bên yên tâm và tự tin triển khai trong thời gian tới.
-
15/10/2026 17:00 PGS.TS Phí Quyết Tiến: Thể chế đã được ‘cởi trói’, công nghệ sinh học sẽ phát triển vượt bậc trong 3–5 năm tới
Khép lại phiên thảo luận, người điều phối đặt một câu hỏi cho cả 5 diễn giả: Để hình thành chuỗi giá trị kinh tế sinh học khép kín, từ nguồn nguyên liệu, công nghệ chiết xuất và chế biến sâu tại viện, trường đến thương mại hóa và xuất khẩu, nếu được chọn một điều quan trọng nhất cần thay đổi ngay sau hội thảo, đó sẽ là gì?

PGS.TS Phí Quyết Tiến (giữa) tại phiên thảo luận. Trả lời đầu tiên, PGS.TS Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), cho biết ông nhìn vấn đề bằng con mắt tích cực. Theo ông, khó khăn lớn nhất là thể chế, và nay đã được “cởi trói”. Doanh nghiệp đã chủ động tìm đến nhà khoa học. Đây là cơ hội để nhà khoa học đưa công nghệ ra doanh nghiệp, và để doanh nghiệp có thêm niềm tin vào nhà khoa học.
“Tôi tin rằng trong vòng 3 đến 5 năm tới, tính từ mốc năm 2026, công nghệ sinh học sẽ phát triển vượt bậc so với bây giờ”, ông nói.
-
15/10/2026 16:55 TS. Nguyễn Lê Thu Hà: Một doanh nghiệp không đủ sức nhận những đơn hàng lớn
Được hỏi về cơ hội Innogenex từng bỏ lỡ trong giai đoạn Covid-19, TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng giám đốc Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex, cho biết khi đó doanh nghiệp vừa làm ra công nghệ. Bộ kit xét nghiệm của Innogenex được đưa vào danh mục giải pháp ứng phó khẩn cấp với Covid-19 liên quan tới WHO, và là một trong 15 bộ kit đầu tiên trên thế giới có kết quả thực nghiệm lâm sàng. Bà cũng cảm ơn đối tác Sao Thái Dương đã đồng hành trên chặng đường không dễ dàng đó.

TS. Nguyễn Lê Thu Hà. Ảnh: Hà Tuấn Khi ấy, doanh nghiệp nhận được rất nhiều đơn hàng và liên hệ từ nước ngoài. Nhưng theo bà Hà, năng lực của doanh nghiệp chưa đáp ứng được. Việc hướng dẫn khách hàng sử dụng kit, vận chuyển qua biên giới, bảo quản để sản phẩm không hỏng hay tránh bị trả hàng đều nhiều rủi ro. Vì vậy, bà cho rằng không nhận những đơn hàng đó “cũng không oan lắm”, thậm chí là may mắn, vì doanh nghiệp chưa sẵn sàng. Theo bà, nếu có cả một hệ sinh thái cùng vào cuộc, từ logistics đến chuyển giao công nghệ, những đơn hàng lớn ấy đã có thể chia đều cho các bên và đóng góp một nguồn ngoại tệ lớn.
Bà lấy thêm ví dụ thảo dược. Tùy công nghệ từ khâu trồng đến khâu chế biến, giá một chai nhỏ chiết xuất có thể chênh từ 5.000 đến 100.000 USD. Những đơn hàng như vậy cần nhiều đối tác cùng tham gia, trong khi Việt Nam rất có tiềm năng về nguồn gen và thảo dược. “Công nghệ sinh học của mình rất nhiều tiềm năng, nhưng một mình một doanh nghiệp không đủ đâu. Phải cần cả hệ thống lớn vào cuộc để lấy được những đơn hàng rất lớn”, bà nói.
-
15/10/2026 16:52 PGS.TS. Nguyễn Minh Tân, Trưởng Nhóm chuyên môn Kỹ thuật Quá trình, Khoa Kỹ thuật Hoá học, Trường Hoá và Khoa học Sự sống, Đại học Bách Khoa Hà Nội

PGS.TS. Nguyễn Minh Tân chia sẻ tại phiên thảo luận. Nối tiếp những chia sẻ của chị Vân và chị Hà, chúng ta có thể thấy rõ một thực tế: nhà khoa học và doanh nghiệp giống như hai bên ở hai bờ sông. Để đến được với nhau, rõ ràng cần phải có một chiếc cầu nối - đó chính là các cơ quan, đơn vị trung gian kết nối thương mại hóa công nghệ.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng chỉ có chiếc cầu thôi thì chưa đủ. Bạn hãy tưởng tượng, dù đã có cầu, hai bên thử bước sang, gặp gỡ và trò chuyện với nhau, nhưng sau lần đầu tiên lại không thể nói chuyện thêm lần thứ hai. Vậy nguyên nhân do đâu?
Theo tôi, cách duy nhất để nhà khoa học và doanh nghiệp (cùng các bên liên quan) có thể hợp tác bền vững là phải hiểu được ngôn ngữ của nhau.
Nếu bắt doanh nghiệp phải am hiểu sâu sắc kiến thức chuyên môn khoa học thì đó là điều vô cùng khó và thiếu thực tế. Do đó, các nhà khoa học nên chủ động trang bị cho mình những kiến thức, hiểu biết cơ bản về thị trường, về sở hữu trí tuệ (IP) và các yếu tố liên quan. Khi có nền tảng tư duy đó, việc đối thoại với doanh nghiệp sẽ trở nên thuận lợi hơn rất nhiều.
Ví dụ, dù chị Vân có ưu ái kết nối tôi với một doanh nghiệp, chị ấy cũng chỉ có thể đóng vai trò dắt hai bên ngồi lại với nhau. Nếu khi trò chuyện, tôi và phía doanh nghiệp không tìm được tiếng nói chung, thì mọi nỗ lực kết nối ban đầu cũng khó thành công.
Từ trải nghiệm thực tế khi tham gia nhiều khóa đào tạo, tôi nhận thấy việc học hỏi mang lại hiệu quả rất rõ rệt và thú vị:
Nhà khoa học sẽ hiểu được cơ chế vận hành của thị trường, những khó khăn thực tế mà doanh nghiệp đang gặp phải.
Với tư cách là chủ sở hữu công nghệ, các nhà khoa học rất nên học cách quản trị tài sản trí tuệ (IP) của chính mình. Điều này giúp chuyển hóa từ tư duy đến điều chỉnh hành động thực tế, mang lại hiệu quả thiết thực trong quá trình chuyển giao công nghệ.
Tóm lại, những ý kiến của các anh chị trước đó đều rất chính xác. Quá trình này đòi hỏi tổng hòa nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất vẫn là sự chủ động thay đổi tư duy và trang bị kiến thức thị trường từ chính phía các nhà khoa học.
Tất cả các bên liên quan, đặc biệt là các doanh nghiệp, đều cần phải cực kì chủ động và tích cực. Tôi cũng muốn chia sẻ thêm rằng, chúng ta không nên kì vọng làm điều gì đó là sẽ thành công ngay lập tức.
Nếu có gặp thất bại, tôi mong mọi người vẫn kiên trì đi tiếp trên con đường đã chọn, bởi đây là công việc có ý nghĩa rất lớn. Nếu triển khai thành công, chúng ta sẽ đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước.
Các bên hãy luôn trong tâm thế chủ động. Thực tế ở bất kì quốc gia nào, dù là Mỹ hay Đức, nếu cứ thụ động chờ đợi cho đến khi mọi điều kiện đều hoàn thiện và đầy đủ thì sẽ không bao giờ có.
-
15/10/2026 16:40 Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực công nghệ sinh học, chỉ sau Singapore
Tại phiên thảo luận “Điểm nghẽn và cơ hội thành công trong thương mại hóa công nghệ sinh học - Từ phòng lab đến thị trường”, ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS) cho biết: Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, là một trong những lợi thế quan trọng để phát triển công nghệ sinh học. Trong khu vực Đông Nam Á, theo đánh giá của tôi, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực này, chỉ sau Singapore.

Ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS) trao đổi tại phiên thảo luận. Một động lực đáng chú ý là những thay đổi trong chính sách, đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi với các quy định liên quan đến quyền lợi của tác giả sáng chế khi sản phẩm được thương mại hóa. Theo ông, cơ chế hưởng từ 20-30% giá trị thương mại hóa có thể tạo thêm động lực để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo và đóng góp cho nền khoa học nước nhà.
Thực tế, thời gian từ khi có sáng chế đến khi sản phẩm được ứng dụng và tạo ra doanh thu có thể kéo dài. Có những sáng chế phải đến năm thứ 15 trong thời hạn bảo hộ mới bắt đầu được thị trường quan tâm, khi nhu cầu sử dụng hình thành và doanh nghiệp đặt vấn đề thương mại hóa. Thậm chí, một số sản phẩm chỉ tạo ra nguồn thu cho nhà khoa học trong hai năm cuối của thời hạn bảo hộ. Điều đó cho thấy quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường cần thời gian, sự kiên trì và những cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Thời hạn bảo hộ sáng chế về cơ bản là 20 năm kể từ ngày nộp đơn, hoặc từ ngày ưu tiên trong trường hợp áp dụng quyền ưu tiên. Với những động lực từ chính sách và quyền lợi thương mại hóa, tôi tin rằng các nhà khoa học sẽ có thêm điều kiện và động lực để đóng góp cho công nghệ sinh học nói riêng, khoa học và công nghệ Việt Nam nói chung. Ông kỳ vọng trong khoảng 2-3 năm tới, lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghiệp sinh học của Việt Nam sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ hơn.
-
15/10/2026 16:35 TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex
Trong quá trình triển khai dự án, nhóm chúng tôi đã đưa ra hai quyết định khác biệt ngay từ giai đoạn đầu:
Giai đoạn 1 là chủ động mời nhà trường đồng hành: Trên thực tế, các nhà đầu tư thường rất e ngại sự tham gia của nhà trường. Với những mô hình kỳ vọng mức tăng trưởng vượt bậc (x30 lần), họ luôn tránh tối đa mọi rủi ro liên quan đến uy tín thương hiệu, dù rủi ro đó chưa rõ đúng sai.
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn quyết định mời nhà trường tham gia xuất phát từ hai lý do là từ sự tri ân. Các thành viên trong nhóm đều trưởng thành từ nhà trường nên mong muốn có đóng góp thiết thực cho trường.
Lý do thứ hai là sự bảo trợ. Đơn vị đào tạo mang lại sự hỗ trợ và uy tín vững chắc cho dự án trong suốt quá trình phát triển.

Giai đoạn 2 là lựa chọn BK Fund là nhà đầu tư chiến lược đầu tiên. Tâm lí chung của các nhà khoa học khi thương mại hóa sản phẩm là lo sợ bị mất quyền kiểm soát, mất công nghệ hoặc bị khai thác chất xám với mức giá rẻ mạt mà không thể tiếp tục phát triển dài hạn.
Sau khi tiếp xúc với nhiều đối tác, chúng tôi đã suy tính cẩn trọng và quyết định chọn BK Fund làm nhà đầu tư mở đầu vì những lí do sau:
Đội ngũ BK Fund xuất thân từ lĩnh vực khoa học - công nghệ nên đánh giá đúng giá trị và thực sự trân trọng các sản phẩm nghiên cứu.
BK Fund vận hành theo mô hình quỹ, không sở hữu các mảng kinh doanh cạnh tranh trực tiếp, đồng thời có khả năng kết nối dự án với các doanh nghiệp khác trong hệ sinh thái của họ.
Quỹ yêu cầu tỉ lệ cổ phần rất hợp lí và luôn duy trì sự tôn trọng bình đẳng với đội ngũ sáng lập.
Chính vì sự tin tưởng này, nếu như ban đầu nhóm chỉ định trích một phần công nghệ nhỏ để hợp tác, thì BK Fund là nhà đầu tư duy nhất mà chúng tôi đồng ý cho tiếp cận và đầu tư vào toàn bộ phần công nghệ lõi ngay từ đầu (điều mà chúng tôi không áp dụng với bất kì nhà đầu tư nào khác).
Quyết định này mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng. Không chỉ giúp dự án tiếp cận được những nguồn lực mới, quá trình làm việc và học hỏi cùng các nhà đầu tư cũng đã giúp bản thân chúng tôi trưởng thành hơn rất nhiều trên con đường phát triển sản phẩm.
-
15/10/2026 16:31 ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH&CN Việt Nam (VASTI): Nhà khoa học và doanh nghiệp cần ‘bà đỡ’ để hiểu nhau
Trả lời câu hỏi về những lực cản trong thương mại hóa công nghệ sinh học, ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), cho rằng Nhà nước đã có chính sách coi công nghệ sinh học là yếu tố rất lớn. Theo bà, Việt Nam là nước có 70–75% là nông nghiệp, nên công nghệ sinh học càng cần được quan tâm, chẳng hạn trong lĩnh vực giống cây trồng.
Bà nhắc tới hai nhà khoa học nữ. PGS.TS Nguyễn Thị Trâm tạo ra giống lúa cao sản và bán được 10 tỉ đồng từ thời đất nước còn khó khăn. GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên làm ra vắc xin ngay trong chiến tranh, khi thiếu thiết bị và phải làm việc bên đèn măng sông. Theo bà Vân, những câu chuyện này cho thấy sự chăm chỉ, thông minh và sức chịu đựng của nhà khoa học Việt Nam.

ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH&CN Việt Nam (VASTI) tại phiên thảo luận. Ảnh: Hà Tuấn Qua tiếp xúc thực tế, bà cho biết doanh nghiệp khát khao phát triển và sẵn sàng bỏ tiền để làm ra sản phẩm. Nhà khoa học nhận kinh phí của Nhà nước để nghiên cứu cũng rất muốn đưa sản phẩm ra thực tiễn. Tuy nhiên, hai bên có tư duy và “ngôn ngữ” khác nhau nên nhiều lúc khó gặp nhau. Theo bà, mỗi bên cần nhường một chút và nói đúng mong muốn của mình, vì cả hai đều muốn tạo ra sản phẩm có giá trị cho xã hội.
“Lúc đó, những người như chúng tôi, tức là ‘bà đỡ’, rất quan trọng: làm thế nào đánh vào điểm tự hào của mỗi người để cuối cùng đi đến kết quả”, bà nói.
Bà lấy ví dụ từ chính các diễn giả của hội thảo. TS. Nguyễn Lê Thu Hà là nhà khoa học nhưng dám về nước thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp. PGS.TS Nguyễn Minh Tân thì mong muốn rau củ quả tươi, vốn chỉ tươi được vài ngày, có thể giữ chất lượng tới một năm. Bà cũng kể từng kết nối các nhà khoa học với một doanh nghiệp để làm kit xét nghiệm LAMP trong thời kì Covid-19. Dự án khi đó ít được quan tâm hỗ trợ và các bên chủ yếu làm tự nguyện, không có kinh phí, nhưng cuối cùng vẫn ra được sản phẩm. “Mọi người thấy đấy, các nhà khoa học vất vả lắm”, bà Vân chia sẻ.
-
15/10/2026 16:30 Sau 5 bài tham luận đầy tâm huyết của các diễn giả, Hội thảo bước vào phần thảo luận

5 vị khách mời tham gia phần thảo luận tại hội thảo. Ảnh: Hà Tuấn Sau 5 bài tham luận đầy tâm huyết của các diễn giả, Hội thảo bước vào phần thảo luận với sự có mặt của 5 vị khách mời: PGS.TS. Nguyễn Minh Tân - Trưởng Nhóm chuyên môn Kỹ thuật Quá trình, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội; TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Cty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex; PGS.TS. Phí Quyết Tiến - Viện trưởng Viện Sinh học, VAST; Ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, NASTIS; ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH&CN Việt Nam (VASTI).
-
15/10/2026 16:10 ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch VASTI: Xây dựng hệ sinh thái kết nối cung - cầu công nghệ sinh học bền vững
Vậy chúng ta cần xây dựng hệ sinh thái kết nối cung - cầu công nghệ sinh học bền vững như thế nào? Chúng ta đều đã được nghe những trăn trở của TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Cty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex, đặc biệt là tâm sự từ Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Đó là câu chuyện: Viện có rất nhiều sản phẩm nghiên cứu, nhưng việc đưa được chúng vào thực tiễn lại là bài toán muôn vàn khó khăn.

ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin KH&CN Việt Nam (VASTI). Ảnh: Hà Tuấn Hay như PGS.TS. Nguyễn Minh Tân, từ năm 2012 chị đã gặp tôi với mong mỏi giải quyết bài toán dưa hấu Quảng Ngãi. Khi ấy, trên chuyến bay trở về từ Đức, nhìn thấy cảnh dưa hấu “được mùa mất giá”, bị vứt bỏ đầy đồng, chị đã trăn trở việc phải ứng dụng công nghệ để giải cứu nông sản địa phương.
Tuy nhiên, cuối cùng dự án vẫn vấp phải rào cản lớn: nguyên liệu dưa hấu đầu vào không được trồng theo quy trình hữu cơ, không ứng dụng công nghệ sinh học từ đầu, khiến chất lượng quả không đồng đều. Nếu đưa một nguồn nguyên liệu chưa chuẩn vào dây chuyền công nghệ cao thì sản phẩm đầu ra khó lòng đảm bảo chất lượng. Bài học đặt ra là: hệ sinh thái công nghệ muốn phát triển thì phải bền vững, tuần hoàn và chuẩn hóa đồng bộ từ khâu đầu vào đến đầu ra.
Xét theo tiến trình mức độ sẵn sàng của công nghệ gồm 9 cấp độ:
Cấp độ 1 - 3: Nghiên cứu cơ bản (đây là thế mạnh lớn của Viện Hàn lâm và các viện, trường).
Cấp độ 4 - 6: Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và mô hình bán công nghiệp.
Cấp độ 7 - 9: Thương mại hóa, đưa sản phẩm vào sản xuất công nghiệp và tiến ra thị trường.
Giữa kết quả nghiên cứu khoa học và thị trường tồn tại một khoảng trống khổng lồ, thường được gọi là “Thung lũng chết” (nằm ở khoảng giữa cấp độ 3 và 6). Để đi qua thung lũng này, nhà khoa học phải bước qua một chiếc "cầu vàng" đòi hỏi rất nhiều nguồn lực: từ vốn đầu tư, mô hình khởi nghiệp (startup), trang thiết bị, mặt bằng sản xuất, năng lực tư vấn chuyên sâu cho đến việc đăng kí bảo hộ sở hữu trí tuệ (IP).
Chỉ khi vượt qua được cấp độ 6 - 7, sản phẩm mới hoàn thành giai đoạn thử nghiệm để chuyển sang sản xuất công nghiệp (cấp độ 7 - 8) và chính thức tiếp cận người tiêu dùng (cấp độ 9). Chính vì khoảng cách quá đắt đỏ và gập ghềnh này, khoảng 90% kết quả nghiên cứu đã bị gác lại hoặc "chết" trong thung lũng, chỉ vỏn vẹn 10% cơ may ra được thị trường.
Cục Thông tin - Thống kê và Đánh giá khoa học hiện đang quản lí một cơ sở dữ liệu khổng lồ với hàng trăm ngàn kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó, mỗi năm có vô số bằng sáng chế do người Việt Nam đăng ký. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất là khoảng 25% các sáng chế và hàng ngàn kết quả nghiên cứu ấy hiện vẫn chỉ nằm yên "trong tủ kính", chưa thể kết nối với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường.
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự đứt gãy giữa nghiên cứu và thực tiễn chính là sự xung đột về tư duy và động lực giữa hai bên: Doanh nghiệp hướng đến lợi nhuận, còn Nhà khoa học hướng đến tính hàn lâm. Một bên liên tục chứng minh kết quả nghiên cứu đạt loại xuất sắc, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn nghiệm thu, nhưng lại bỏ qua câu hỏi then chốt: Thị trường có thực sự cần sản phẩm này không? Nó có giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực cạnh tranh hay không?
Để tháo gỡ điểm nghẽn, chúng ta cần nhìn nhận rõ sự khác biệt mang tính bản chất này. Nhà khoa học hướng tới sự đột phá tri thức và công bố quốc tế (như tiêu chuẩn bắt buộc của Quỹ NAFOSTED), tạo ra tài sản trí tuệ (IP).
Doanh nghiệp hướng tới lợi nhuận, thị phần và dòng tiền. Như thực tế từ kinh nghiệm 10 năm khởi nghiệp của tôi: Quản trị dòng tiền là bài toán vô cùng khốc liệt, nhiều đơn vị đang có lãi nhưng khi mở rộng xưởng, đầu tư thiết bị lại rơi vào lỗ, thậm chí phá sản và phải lấy tiền túi bù lỗ văn phòng.
Nhà khoa học đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối, tính mới và tính sáng tạo để đăng kí bảo hộ sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp đòi hỏi tính khả thi thương mại và khả năng sản xuất hàng loạt.
Nhà khoa học nghiên cứu kiên trì theo năm tháng (thường kéo dài 2 - 3 năm cho một đề tài).
Doanh nghiệp chịu áp lực thời gian cực lớn, cần sản phẩm ra thị trường hàng tuần, không thể chờ đợi các chu kì nghiệm thu kéo dài nhiều năm.
Để kết nối hai thế giới này, chúng ta phải nhận diện và giải quyết 4 rào cản chính:
Rào cản định giá tài sản trí tuệ: Định giá công nghệ là bài toán rất phức tạp. Dù áp dụng các phương pháp định giá tiên tiến (như mô hình của Nhật Bản), cuối cùng hai bên vẫn phải tự thỏa thuận dựa trên thực tế hợp tác.
Rào cản về kì vọng: Doanh nghiệp luôn mong muốn một sản phẩm hoàn hảo, sẵn sàng thương mại hóa ngay, trong khi nghiên cứu của các viện thường mới dừng ở quy mô phòng thí nghiệm.
Rào cản về cơ chế, thủ tục: Các viện nghiên cứu chủ yếu sử dụng ngân sách nhà nước, nên khi chuyển giao hay hợp tác phải vấp phải các quy định phức tạp về quản lý và thanh lý tài sản công.
Rào cản về niềm tin: Thiếu sự thấu hiểu và tôn trọng chuyên môn lẫn nhau. Doanh nghiệp đòi hỏi tính thực tế, còn nhà khoa học lại giữ góc nhìn quá hàn lâm.
Đối với các nhà khoa học (như PGS.TS. Phí Quyết Tiến) đã sở hữu kết quả nghiên cứu có tiềm năng chiếm lĩnh thị trường, nếu trong gia đình hoặc đội ngũ có người đủ năng lực quản trị kinh doanh, mô hình thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp là một hướng đi tối ưu. Khi đó, nhà khoa học vừa chủ động thương mại hóa sản phẩm, vừa hoàn trả chi phí/bản quyền cho Viện nghiên cứu theo đúng quy định.
Từ kinh nghiệm hơn 40 năm công tác, tôi luôn khuyên các nhà khoa học và doanh nghiệp: Hãy cùng nhau nghiên cứu ngay từ đầu và để doanh nghiệp trực tiếp tham gia thực thi. Câu chuyện của chị Tân là một ví dụ điển hình. Mặc dù xuất thân từ lĩnh vực tự động hóa và giải pháp phần mềm, nhưng cuối cùng chị vẫn tập trung giải bài toán chế biến sâu cho nông sản.
Do đó, hệ sinh thái kết nối cung - cầu công nghệ sinh học bền vững tại Việt Nam không thể tiếp tục hoạt động theo mô hình tự phát, mà phải chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình liên kết chiến lược nhằm tạo ra các tiêu chuẩn chuẩn hóa.
Một hệ sinh thái hoàn chỉnh cần sự gắn kết chặt chẽ của 5 thành phần, trong đó tổ chức trung gian đóng vai trò hạt nhân điều phối dòng công nghệ, tài chính và chính sách:
Thành tố trung gian (Hạt nhân điều phối): Bao gồm các sàn giao dịch công nghệ, trung tâm tư vấn, chuyển giao công nghệ và các đơn vị hỗ trợ khởi nghiệp (như mô hình sàn giao dịch công nghệ của Bộ Thông tin và Truyền thông hay sự đồng hành từ các trường đại học). Hằng năm, các đơn vị này không chỉ kết nối mà còn báo cáo, tham mưu cho lãnh đạo Bộ để kịp thời điều chỉnh chính sách.
Bên cung (Nguồn cung công nghệ): Các viện nghiên cứu, trường đại học (nơi các nhà khoa học như anh Tiến chỉ rõ những vướng mắc thực tế khiến công nghệ chưa thể chuyển giao).
Bên cầu (Thị trường & Doanh nghiệp): Các doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
Cộng đồng & Hợp tác quốc tế: Tiếp cận và áp dụng các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế để đưa sản phẩm công nghệ ra thị trường toàn cầu.
Nhà nước & Chính sách: Đóng vai trò tạo nguồn "vốn mồi" và thiết lập hành lang pháp lý (chẳng hạn như Nghị định 57/Nghị định 13 mới với cơ chế vốn đối ứng 50%, 70%, 80% rất chuẩn xác; đồng thời xây dựng quy trình chuẩn xanh và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - Sandbox).
Những điểm nghẽn cần tháo gỡ là khó khăn trong tìm kiếm đối tác đối ứng. Việc Nhà nước quy định doanh nghiệp phải có vốn đối ứng khi tham gia dự án KH-CN là rất đúng đắn, nhưng lại gây khó cho các nhà khoa học trong việc tìm kiếm doanh nghiệp sẵn sàng đồng hành.
Bài học từ Nghị định 119 trước đây cho thấy nhiều doanh nghiệp không thể bắt nhịp với quy trình của ngành KH-CN. Doanh nghiệp quen làm việc theo hóa đơn - chứng từ thanh toán nhanh gọn, trong khi quy trình nghiệm thu đề tài khoa học lại rất phức tạp.
Đăng ký bằng sáng chế là cần thiết, nhưng quy trình thường mất nhiều thời gian. Vì vậy, đối với nhiều sản phẩm công nghệ ứng dụng, hướng đi thực tế và nhanh nhất cho nhà khoa học là: Hoàn thiện sản phẩm thử nghiệm -> Bao gói hoàn chỉnh -> Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu) -> Tiến hành chuyển giao toàn bộ cùng nhãn hiệu.
Để công nghệ sinh học thực sự đi vào đời sống, chúng ta cần sự vào cuộc đồng bộ: Nhà nước mồi vốn và mở cơ chế Sandbox, Viện - Trường cung cấp giải pháp, Doanh nghiệp đặt hàng và đối ứng, Cộng đồng quốc tế nâng chuẩn, và Tổ chức trung gian làm cầu nối điều phối toàn bộ hệ sinh thái.
Tôi cho rằng vai trò của các Bộ, ngành là định hướng kéo thị trường, đó là phối hợp điều phối chiến lược giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm định hướng chính xác các bài toán lớn cho ngành công nghiệp sinh học.
Bên cạnh đó cần tranh thủ tối đa sự hỗ trợ kỹ thuật quốc tế về phương pháp đo lường, tiêu chuẩn hóa và quản lý tín chỉ carbon (đây cũng là hướng đi thời sự mà chúng ta cần chủ động đặt ra tiêu chuẩn).
Thay vì mô hình "đẩy công nghệ" từ phòng thí nghiệm ra thị trường một cách thụ động, chúng ta phải chuyển sang cơ chế "kéo nhu cầu", lấy bài toán thực tế của thị trường và doanh nghiệp làm mệnh lệnh đặt hàng cho nghiên cứu.
Theo tôi, lộ trình 3 giai đoạn xây dựng hệ sinh thái kết nối cung - cầu (2026 - 2030) sẽ bao gồm:
Giai đoạn 1: Số hóa và Đánh giá dữ liệu (Nền tảng then chốt)
Thống kê, chuẩn hóa danh mục công nghệ đạt cấp độ sẵn sàng TRL từ 4 đến 7, đồng thời khảo sát sâu rộng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Nhiệm vụ trọng tâm này cần sự vào cuộc chủ lực của Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá Khoa học và Công nghệ.Giai đoạn 2: Thử nghiệm cơ chế Sandbox
Thiết lập các hành lang pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) nhằm tháo gỡ vướng mắc về thanh lý tài sản công, cơ chế vốn đối ứng và chuyển giao tài sản trí tuệ.Giai đoạn 3: Thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp & Mở rộng thị trường quốc tế Khuyến khích các viện, trường thành lập doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ khởi nghiệp, đẩy mạnh kết nối thương mại hóa sản phẩm ra thị trường toàn cầu.
Đổi mới sáng tạo chỉ thực sự thành công khi tri thức khoa học đáp ứng đúng và trúng nhu cầu của thị trường. Yếu tố cốt lõi là các bên - từ Nhà khoa học, Doanh nghiệp đến Nhà nước - cùng tôn trọng sự khác biệt của nhau và tôn trọng quy luật thị trường, hướng tới mục tiêu chung là sự phát triển bền vững.
-
15/10/2026 16:06 PGS.TS Nguyễn Minh Tân, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội: Đừng chỉ chuyển giao công nghệ, hãy cùng doanh nghiệp làm ra sản phẩm có đơn hàng
Trình bày tham luận “Hành trình đưa kết quả nghiên cứu từ phòng lab ra thị trường”, PGS.TS Nguyễn Minh Tân, Trưởng Nhóm chuyên môn Kỹ thuật Quá trình, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết bà chia sẻ từ góc độ một nhà khoa học đang làm những việc nằm ngoài phận sự quen thuộc của mình.

PGS.TS Nguyễn Minh Tân, Trưởng Nhóm chuyên môn Kỹ thuật Quá trình, Khoa Kỹ thuật Hóa học, Trường Hóa và Khoa học Sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Hà Tuấn Từ phòng thí nghiệm ra vườn cây
Hành trình của nhóm bắt đầu từ năm 2012 với một đề tài hợp tác nghiên cứu giữa Việt Nam và Áo. Đề tài tạo ra công nghệ JEVA, dùng để cô đặc các loại dịch mẫn cảm nhiệt, và kết thúc thành công vào năm 2014–2015. Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, nếu đi theo lối thông thường, nhóm sẽ chuyển sang nhiệm vụ khác.
Bước ngoặt đến vào năm 2016, khi bà tham gia khóa đào tạo về thương mại hóa kết quả nghiên cứu của Quỹ Newton (Anh). Từ đây, nhóm phát triển công nghệ trong phòng thí nghiệm thành giải pháp chế biến rau quả di động và thông minh, đặt ngay tại vườn. Theo cách làm này, nông sản được chế biến sâu thành nhiều sản phẩm ngay tại vườn và tại nhà máy để tăng hiệu quả kinh tế. Bà lấy ví dụ quả thanh long: nếu chỉ chế biến phần dịch quả, chiếm khoảng 30%, thì tối ưu đến đâu giá thành vẫn rất đắt. Chỉ khi chế biến được cả vỏ lẫn hạt, mô hình mới có hiệu quả.
Từ năm 2018, nhóm thành lập doanh nghiệp, dự thi quốc tế và lọt top 16 thế giới tại cuộc thi ClimateLaunchpad. Tiếp đó là dự án sản xuất thử nghiệm thuộc Chương trình nông thôn, miền núi, được nghiệm thu cấp nhà nước ngày 30/7/2025. Dự án được giao thực hiện giai đoạn 2022–2024 nhưng vướng đại dịch Covid-19 nên đến năm 2025 mới hoàn thành.
Theo bà, sản phẩm quý nhất của dự án không phải các sản phẩm chế biến. Đó là việc các sinh viên năm thứ tư lắp đặt xong hệ thống máy cho doanh nghiệp ở Bắc Kạn (nay thuộc tỉnh Thái Nguyên) rồi trở về Hà Nội.

Sản phẩm của dự án sản xuất thử nghiệm thuộc Chương trình nông thôn, miền núi Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thường bị cho là ngại chi phí thiết bị. Nhưng theo bà, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư, cái họ thiếu là người vận hành tốt công nghệ mới. Vì vậy, nhóm đưa chuyển đổi số và tối ưu hóa vào hệ thống để điều khiển toàn bộ từ Bách khoa Hà Nội.
Bằng chứng trước, đầu tư sau
Hiện nay, giải pháp của nhóm gồm bốn phần: quy trình đã chuẩn hóa để đưa thẳng ra sản xuất; thiết bị; vận hành, để doanh nghiệp không cần đội ngũ được đào tạo chuyên sâu; cuối cùng là triển khai.
Bà cho rằng nhiều công nghệ rất xuất sắc khi chính chủ công nghệ vận hành. Câu hỏi khó là sau khi chuyển giao, làm sao giữ được chất lượng đó và làm sao để doanh nghiệp Việt Nam hấp thụ được.
Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, cách làm thông thường là đầu tư trước: mua máy, xây xưởng, làm sản phẩm rồi mới đi tìm khách. Khi phát hiện sai, chi phí sửa rất lớn hoặc dự án thất bại, và nhà đầu tư kết luận là không hiệu quả rồi dừng lại. Nhóm của bà làm ngược lại theo năm bước. Đầu tiên là trao đổi và sản xuất thử nghiệm trên hệ thống sẵn có. Sau đó dùng sản phẩm thử để nghiên cứu thị trường, rồi phát triển giải pháp riêng cho từng khách hàng. Cuối cùng, doanh nghiệp tự quyết định có triển khai hay không.
Bà nhấn mạnh rằng có công nghệ xuất sắc không có nghĩa là có cơ hội ra thị trường, và đích đến của nhà khoa học phải là sản phẩm làm ra từ công nghệ, chứ không phải bản thân việc chuyển giao.
Trước khi mở rộng, sản phẩm còn phải qua bốn cửa kiểm chứng: chất lượng sản phẩm, thị trường, các chỉ số kinh tế và cuối cùng là quy mô. Bà cho biết nhiều doanh nghiệp đang làm việc với nhóm đã có khách đặt một, hai container hàng thử. Nhưng để tăng lên 10 container mỗi tháng, doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam khó có ngay năng lực đáp ứng, mà đã từ chối đơn hàng thì khó có cơ hội tiếp. Theo bà, giai đoạn này cần chuyên gia đồng hành.

Ba chủ thể, một hành trình
Với mô hình Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp, PGS.TS Nguyễn Minh Tân mong ba bên cùng đi một hành trình nhưng thay đổi vai trò. Nhà khoa học chuyển từ người đi bán quy trình, bán kết quả nghiên cứu sang người đưa ra giải pháp. Doanh nghiệp chuyển từ người đi mua máy, mua công nghệ sang người nắm rõ bài toán của mình và đi tìm người đồng hành. Nhà nước chuyển từ tài trợ đề tài sang chia sẻ rủi ro ở giai đoạn giữa, tức giai đoạn chạy thử và thử nghiệm thị trường. Một cách làm là hỗ trợ các nền tảng dùng chung để nhiều doanh nghiệp được thử trước khi quyết định đầu tư.
Bà kêu gọi các bên bắt đầu hợp tác ngay sau hội thảo, mà hợp tác không nhất thiết là cấp vốn hay kí kết. Nó có thể đơn giản là cùng trao đổi để đưa ra bài toán thực tế, thay vì mở đầu bằng câu hỏi “Anh có công nghệ gì?”. Bà cũng đề nghị cơ quan quản lí xây dựng chương trình hỗ trợ hạ tầng chạy thử dùng chung và mạng lưới giải các bài toán liên ngành.
“Các bên hãy cùng nhau tạo ra sản phẩm có đơn hàng và tạo cho doanh nghiệp năng lực giao hàng. Bởi nếu chỉ chuyển giao, doanh nghiệp nhận rồi cũng rất khó phát triển, rất ít doanh nghiệp làm được. Tôi sẵn sàng đồng hành từ bài toán đến thị trường”, PGS.TS Nguyễn Minh Tân nói.
-
15/10/2026 15:33 TS. Nguyễn Lê Thu Hà: Bài toán kinh tế sinh học và hải trình "Đóng tàu ra khơi"
TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Cty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex mang đến tham luận ấn tượng về chủ đề "Thương mại hóa Công nghệ Sinh học: Bài toán kinh tế và rủi ro". Thông qua hình ảnh ẩn dụ đầy sống động về chuyến ra khơi đánh bắt cá, TS. Thu Hà đã phác thảo bức tranh toàn cảnh cùng những giải pháp thiết thực cho hệ sinh thái công nghệ sinh học (Biotech) tại Việt Nam.

TS. Nguyễn Lê Thu Hà, Tổng Giám đốc Cty TNHH Khoa học và Công nghệ quốc tế Innogenex. Theo TS. Nguyễn Lê Thu Hà, đưa một nghiên cứu công nghệ sinh học từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một hải trình gian nan và tốn kém. Trong lĩnh vực dược phẩm và chế phẩm sinh học, rủi ro có tính chất nhị phân rất cao: số liệu thực tế giai đoạn 2011–2020 cho thấy trung bình chưa đầy 8 trên 100 ứng viên (khoảng 7,9%) đi từ thử nghiệm lâm sàng Phase I đạt được phê duyệt lưu hành. Bên cạnh đó, thời gian để một phát minh phát triển thành sản phẩm có doanh thu có thể kéo dài từ 8-12 năm.
Để giảm áp lực tài chính trong thời gian phát triển công nghệ lõi, TS. Hà đề xuất chiến lược “bắt cá dọc đường”, tức tạo nguồn thu từ các sản phẩm, dịch vụ có chu kỳ thương mại hóa ngắn hơn. Các nguồn thu có thể đến từ bộ kit chẩn đoán, chế phẩm vi sinh, giám định ADN, dịch vụ nghiên cứu và phát triển theo hợp đồng, kiểm nghiệm hoặc tư vấn thiết lập phòng thí nghiệm. Doanh nghiệp cũng có thể tìm kiếm tài trợ nghiên cứu và các nguồn vốn không làm pha loãng cổ phần.
InnoGenEx được đưa ra làm ví dụ về hướng tiếp cận này. Theo nội dung tham luận, doanh nghiệp đã phát triển bộ kit LAMP phát hiện virus dịch tả lợn châu Phi, cho kết quả sau khoảng 1-1,5 giờ, không cần nguồn điện và có thể sử dụng tại hiện trường. Đơn vị cũng đã chuyển giao 16 dòng sản phẩm phát hiện nhanh độc tố và mầm bệnh cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp.
Từ trường hợp này, diễn giả cho rằng doanh nghiệp cần xác định rõ giá trị khách hàng thực sự mua. Thay vì chỉ bán một hộp kit, sản phẩm có thể được phát triển thành giải pháp gồm bộ kit, quy trình sử dụng, thiết bị và đào tạo. Cách tiếp cận đó mở ra nhiều phương thức thu tiền hơn, từ bán sản phẩm theo đơn vị, cung cấp gói dịch vụ định kỳ đến chuyển giao công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật.
Tuy nhiên, doanh thu từ các sản phẩm ngắn hạn không thay thế được yêu cầu đầu tư dài hạn cho công nghệ lõi. Giá trị của chiến lược này nằm ở khả năng giúp doanh nghiệp có thêm dòng tiền, hiểu rõ nhu cầu khách hàng và giảm sự phụ thuộc vào các vòng gọi vốn liên tục. Điều đó cũng giúp nhà sáng lập hạn chế tình trạng tỷ lệ sở hữu bị pha loãng quá nhiều sau mỗi vòng huy động vốn.
Một nội dung đáng chú ý khác là công tác soát xét trước đầu tư (due diligence). Theo TS. Hà, nhà đầu tư cần kiểm tra kỹ bốn nhóm vấn đề: quyền sở hữu trí tuệ, chất lượng dữ liệu nghiên cứu, tình hình tài chính và khả năng đáp ứng yêu cầu pháp lý. Công nghệ có thể gặp trở ngại nếu quyền sở hữu sáng chế giữa nhà phát minh, viện nghiên cứu và doanh nghiệp chưa được xác lập rõ ràng, hoặc chưa đánh giá đầy đủ nguy cơ xung đột với quyền sở hữu trí tuệ của bên khác.
Dữ liệu cũng phải có khả năng kiểm chứng và tái lập, thay vì chỉ dựa trên những kết quả thuận lợi được lựa chọn. Về tài chính, doanh nghiệp cần tính toán thời gian có thể duy trì hoạt động bằng nguồn tiền hiện có, các nghĩa vụ cổ phần và số vốn cần thiết để đạt cột mốc tiếp theo. Tham luận đề xuất chuẩn bị nguồn lực đủ duy trì hoạt động ít nhất 18 tháng, đồng thời xây dựng ngân sách theo tiến độ phát triển thay vì sử dụng vốn thiếu kiểm soát.
Với các sản phẩm sinh học và vaccine, thời gian cấp phép thực tế cũng cần được tính đến trong kế hoạch kinh doanh. Tham luận nêu ước tính một số sản phẩm có thể mất 24-36 tháng cho quá trình cấp phép, lâu hơn đáng kể so với những giả định ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp dự kiến sản phẩm sớm được lưu hành nhưng chưa chuẩn bị đủ nguồn tiền cho các tình huống chậm trễ, nguy cơ đứt dòng tiền có thể xuất hiện ngay cả khi công nghệ có triển vọng.
Tuy nhiên, khả năng tạo doanh thu từ sản phẩm ngắn hạn không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp công nghệ sinh học đều có thể áp dụng cùng một mô hình. Việc lựa chọn sản phẩm cần căn cứ vào nhu cầu thị trường, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và nguồn lực nghiên cứu của từng đơn vị.
Bên cạnh vốn, thủ tục cấp phép và quyền sở hữu trí tuệ là những yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch kinh doanh. Phân tích bối cảnh tại Việt Nam, TS. Thu Hà đánh giá cao những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi (Luật 131/2025/QH15) và Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi (Luật 115/2025/QH15) có hiệu lực từ ngày 01/04/2026, giúp mở đường cho mô hình spin-off và tài sản hóa IP.

Tuy nhiên TS. Hà lưu ý doanh nghiệp cần tính đến khoảng thời gian thực tế để hoàn tất thủ tục, thay vì chỉ dựa vào tiến độ kỳ vọng. Theo số liệu bà nêu, quá trình cấp phép một số sản phẩm sinh học, vaccine có thể kéo dài 24-36 tháng, lâu hơn đáng kể so với kế hoạch ban đầu của doanh nghiệp.
Ngoài ra trước khi gọi vốn, nhà sáng lập cần làm rõ quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm dữ liệu nghiên cứu có thể kiểm chứng và tái lập, xây dựng hệ thống tài chính minh bạch, đồng thời chuẩn bị nguồn tiền đủ duy trì hoạt động ít nhất 18 tháng. Doanh nghiệp cũng cần đội ngũ có năng lực về pháp lý, lâm sàng và quản trị, thay vì chỉ dựa vào chuyên môn khoa học.
Những vấn đề này càng đáng chú ý với các doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu tại trường đại học, viện nghiên cứu hoặc sử dụng ngân sách nhà nước. Việc xác định quyền sở hữu, quyền khai thác và cơ chế phân chia lợi ích cần được thực hiện rõ ràng để hạn chế tranh chấp khi chuyển giao công nghệ hoặc tiếp nhận đầu tư.
Theo hướng tiếp cận của TS. Hà, thương mại hóa công nghệ sinh học không đơn thuần là đưa một phát minh ra thị trường, mà là quá trình cân đối giữa tiềm năng khoa học, khả năng tạo doanh thu và mức độ chấp nhận rủi ro. Để các nghiên cứu trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư cần thống nhất từ đầu về mục tiêu phát triển, nguồn lực tài chính và cách chia sẻ lợi ích.
Tham luận khép lại với thông điệp: Thương mại hóa công nghệ sinh học chỉ thực sự thành công khi Founder hiểu rõ mong muốn của nhà đầu tư, chuẩn bị kỹ lưỡng công tác soát xét (Due Diligence) về IP, dữ liệu gốc và quản trị, đồng thời linh hoạt đổi mới mô hình kinh doanh để mang lại giá trị thực cho khách hàng sau cùng.
-
15/10/2026 15:15 PGS.TS. Phí Quyết Tiến: Công nghệ sinh học đột phá ứng dụng thực tiễn sẵn sàng chuyển giao
Hôm nay, tôi xin phép được chia sẻ thêm một số thông tin nối tiếp những đánh giá của đồng chí Trần Văn Tùng và đồng chí Huỳnh Thành Đạt về vai trò, tiềm năng khai thác và ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Đến với hội thảo hôm nay, chúng tôi tập trung thảo luận về giải pháp kết nối giữa nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sinh học, công nghệ sinh học với thị trường.
Như báo cáo đã nêu, Việt Nam hiện có nhiều trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Trong đó có thể kể đến Viện Sinh học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Khoa Sinh học thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) cùng nhiều viện, trường nghiên cứu khác.

PGS.TS. Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam (VAST). Tuy nhiên, thực tế cho thấy chúng ta vẫn còn khoảng trống rất lớn trong việc chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại. Đúng như đồng chí Bùi Duy Nghĩa đã chỉ ra, hiện tồn tại nhiều nút thắt ở khâu thương mại hóa, dù lĩnh vực công nghệ sinh học của Việt Nam được các nước phát triển đánh giá là vô cùng tiềm năng.
Thực tiễn tổng kết cho thấy 3 điểm nghẽn lớn nhất hiện nay bao gồm:
Thiếu cơ chế đặt hàng dài hạn: Các nghiên cứu còn phân mảnh, chưa được đầu tư bài bản và tập trung để tạo ra sản phẩm ứng dụng hoàn chỉnh.
Liên kết Viện - Trường chưa đạt hiệu quả cao: Mặc dù đã có sự kết nối giữa các viện nghiên cứu và trường đại học, nhưng trong giai đoạn vừa qua, sự liên kết này vẫn còn mang tính hình thức, chưa đem lại giá trị thiết thực.
Nút thắt về mở rộng quy mô (Giai đoạn "Thung lũng chết"): Chúng ta tạo ra những sản phẩm rất xuất sắc trong phòng thí nghiệm, nhưng để chuyển hóa thành sản phẩm thương mại của doanh nghiệp thì lại gặp vướng mắc. Để vượt qua "thung lũng chết" này, sản phẩm cần phải được chuẩn hóa, nâng cấp quy mô sản xuất, chuyển giao công nghệ và được định giá, thương mại hóa thành các sản phẩm tài chính.
Về mặt chủ trương, chính sách, chúng ta đã có những định hướng rất rõ ràng. Cụ thể, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra mục tiêu: Đến năm 2030, ngành công nghệ sinh học đóng góp khoảng 7% vào tăng trưởng GDP và đến năm 2045 đạt từ 10% đến 15% GDP. Đây là mục tiêu tiệm cận với các nước phát triển trên thế giới, một mục tiêu đầy thách thức nhưng cũng là động lực lớn để chúng ta phấn đấu.
Cụ thể hóa Nghị quyết 36, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 189/NQ-CP hành động, phân công nhiệm vụ rất rõ ràng cho từng ngành, lĩnh vực có thể tạo ra đà tăng trưởng; trong đó giao nhiệm vụ trọng tâm về công nghệ sinh học chế biến cho ngành Công Thương và ngành Nông nghiệp.
Xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi thấy rằng một quy trình hoàn chỉnh để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất phải trải qua các bước bài bản: từ khâu khởi đầu nghiên cứu, xác định công nghệ cốt lõi, chuẩn hóa quy trình, thử nghiệm ở quy mô bán công nghiệp trước khi chuyển giao cho doanh nghiệp, cho đến giai đoạn doanh nghiệp tiếp nhận, vận hành và điều chỉnh.
Để dễ hình dung, quá trình này tương tự như việc sản xuất một sản phẩm công nghệ cao, đơn cử như chiếc điện thoại iPhone quý vị đang sử dụng. Sau một thời gian vận hành, chúng ta phải đánh giá xem cần nâng cấp tính năng gì và định hướng R&D (Nghiên cứu & Phát triển) tiếp theo ra sao. Thực tiễn đó cho thấy, nhu cầu đặt hàng và phản hồi từ thị trường chính là "kim chỉ nam" giúp chúng ta định vị và xác định lại các ưu tiên nghiên cứu.
Song song với đó, trong mạng lưới liên kết này, các trường đại học cần tập trung vào đào tạo các lĩnh vực mũi nhọn, tạo động lực tăng trưởng nhân lực chất lượng cao; Các viện nghiên cứu và hệ thống đào tạo cần định hướng công nghệ và phát triển sản phẩm bám sát nhu cầu thực tế của doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lí nhà nước.
Như tôi đã báo cáo, chúng ta cần tập trung phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, công nghệ chiến lược không phải là cố định mà cần được định vị, tái đánh giá theo từng giai đoạn. Bài học thực tiễn trong quá khứ đã chứng minh chúng ta từng rất mạnh dạn ban hành Quyết định thay thế (như Quyết định 21 thay thế Quyết định 1131). Trong nghiên cứu và ứng dụng hiện nay, đây cũng là một điểm tựa quan trọng mà chúng ta cần hướng tới.
Về các nhóm lĩnh vực có khả năng đóng góp trực tiếp hoặc tạo động lực tăng trưởng cho ngành sinh học và công nghệ sinh học:
Lợi thế sẵn có là chúng ta có thế mạnh rõ rệt trong công nghệ sinh học nông nghiệp, thủy sản, các chế phẩm vi sinh và tạo giống chính xác. Một số công nghệ đã được chúng tôi nghiên cứu, hoàn thiện trong những năm qua và sẵn sàng chuyển giao ngay cho thương mại.
Nhận diện công nghệ tương lai (như công nghệ chỉnh sửa gen): Vừa qua, với sự hỗ trợ tài chính từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chúng tôi đã tạo thành công giống lúa phục hồi alen RC cho hạt màu đỏ.
Tuy nhiên, dù đã nhận diện và nghiên cứu thành công về mặt khoa học, chúng ta lại đang gặp vướng mắc về khung pháp lí: Liệu đã có đủ cơ chế thử nghiệm mô hình và đưa sản phẩm ra thị trường hay chưa?
Đây là vấn đề đòi hỏi chúng ta phải có tầm nhìn tương lai: cần nhận diện công nghệ rõ ràng, xác định cách làm cụ thể, và đôi khi các quy phạm pháp luật của Nhà nước cần phải đi trước một bước để định hướng. Chúng ta không thể "đi tắt" nếu thiếu hành lang pháp lý chuẩn bị sẵn cho các công nghệ mới.
Bên cạnh đó, việc kết hợp công nghệ sinh học với cảm biến, CNTT, trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet kết nối vạn vật (IoT) sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ chẩn đoán và dự báo.
Việt Nam sở hữu lợi thế rất lớn về đa dạng sinh học. Đơn cử như việc khai thác các nguồn vi sinh vật bản địa: vi khuẩn tía có khả năng tổng hợp các axit béo Omega số lẻ (Omega-3, 7, 9), trong khi các sản phẩm từ vi tảo hay thực vật thông thường chủ yếu tổng hợp Omega số chẵn. Đây chính là những điểm khác biệt mà chúng tôi lựa chọn để định vị sản phẩm.
Theo xu hướng hiện nay, từ công nghệ tế bào miễn dịch cho đến khai thác nguồn gen bản địa, chúng ta cần quyết tâm trở thành những người tiên phong tại Việt Nam trong việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến này vào thực tiễn.
Trong kỉ nguyên số, để rút ngắn con đường đi đến đích, nền tảng dữ liệu lớn (Big Data) và Sinh học hệ thống đóng vai trò then chốt. Chúng tôi định hướng tập trung phát triển: Công nghệ khai thác dữ liệu Bộ gen metagenome; Ứng dụng AI và tin sinh học; Giải mã hệ gen và chẩn đoán chính xác.
Những định hướng này đã được nhận diện sớm và thể hiện rất rõ trong Quyết định 21: xác định cụ thể đâu là sản phẩm tạo động lực tăng trưởng ngay, và đâu là sản phẩm sinh học tạo đà tăng trưởng cho tương lai. Tôi hoàn toàn ủng hộ và đồng tình với các chính sách chiến lược này của Chính phủ đối với ngành công nghệ sinh học trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn.
Một vấn đề quan trọng phát sinh khi chúng ta tạo ra dữ liệu lớn là quản trị dữ liệu. Khâu này liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, thông lệ quốc tế và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đáng chú ý, dữ liệu hoàn toàn có thể được thương mại hóa thành tài sản tài chính, đây cũng là một định hướng chiến lược mà chúng tôi đang hướng tới.

PGS.TS. Phí Quyết Tiến: "Thực tiễn đó cho thấy chúng ta cần chuẩn bị chủ động và có tinh thần "đi tắt đón đầu" trong khai thác các mô hình hợp tác quốc tế". Từ các cơ sở trên, chúng tôi phân loại danh mục công nghệ thành các nhóm cụ thể:
Nhóm công nghệ có thể chuyển giao ngay: Các chế phẩm vi sinh phục vụ nông nghiệp và xử lí ô nhiễm môi trường; Công nghệ giám định ADN hài cốt liệt sĩ (nhiệm vụ chính trị - xã hội trọng tâm); Cơ sở dữ liệu gen bệnh lí đặc trưng của người Việt Nam, vừa sẵn sàng chuyển giao cho doanh nghiệp trong nước, vừa có giải pháp kiểm soát nghiêm ngặt về an ninh dữ liệu.
Nhóm công nghệ từ phòng thí nghiệm cần cơ chế bứt phá: Để đưa các nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường và chuyển hóa thành tài sản tài chính, chúng ta rất cần cơ chế liên kết chặt chẽ, sự đồng hành của các Quỹ đầu tư và sự chung tay trực tiếp từ phía doanh nghiệp.
Với mô hình này, chúng tôi đã chủ động xác định các giải pháp trọng tâm và bắt tay vào triển khai ngay khi tiếp nhận nguồn tài trợ, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế. Chúng tôi cũng đã vận động sự hỗ trợ từ các bộ, ngành để tối ưu hóa các nguồn lực hợp tác quốc tế này. Cụ thể, qua hai trường hợp điển hình:
Về công nghệ giám định ADN hài cốt liệt sĩ giai đoạn mới, sau khi đạt kết quả từ các lô thử nghiệm đầu tiên tại các nghĩa trang, vừa qua, vào ngày 25/9, chúng tôi đã tổ chức đào tạo và bàn giao, chuyển giao công nghệ giám định cho các đơn vị chuyên môn trên phạm vi cả nước.
Hiện nay, Chính phủ đã có chỉ đạo quyết liệt để đẩy nhanh quá trình chuyển giao này. Thực tiễn đó cho thấy chúng ta cần chuẩn bị chủ động và có tinh thần "đi tắt đón đầu" trong khai thác các mô hình hợp tác quốc tế.
Về công nghệ chỉnh sửa gen, chúng tôi đã cử cán bộ đi đào tạo chuyên sâu ở nước ngoài, không phải với mục tiêu lấy bằng Thạc sĩ hay Tiến sĩ, mà nhằm nắm vững các "mô-đun" công nghệ cốt lõi để lắp ghép, giải quyết chính xác các bài toán thực tiễn của Việt Nam. Nhờ đó, chúng tôi đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ chuyên môn và mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới.
Đặc biệt, vào ngày 2/10, trong khuôn khổ phát triển các nhóm công nghệ do Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng, chúng tôi đã kí kết hợp tác trực tiếp với Công ty Cổ phần Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed) để hướng tới việc đặt hàng và chuyển giao công nghệ trực tiếp.
Qua thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi rút ra bài học cốt lõi: Cần phải có bài toán đặt hàng cụ thể từ phía doanh nghiệp, đi kèm cơ chế đồng tài trợ và nghiệm thu theo tiến độ công việc, đúng như chỉ đạo định hướng mà đồng chí Trần Văn Tùng đã chia sẻ ở đầu hội thảo hôm nay.
-
15/10/2026 15:00 Ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS): Muốn đo đóng góp của công nghệ sinh học vào GDP, trước hết phải định nghĩa được nó
Trong tham luận "Đo lường đóng góp của công nghệ sinh học vào GDP Việt Nam: Từ kinh nghiệm quốc tế đến Khung thống kê 3 tầng hướng tới mục tiêu 2030", ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS) cho biết nhóm của ông đang nghiên cứu phương pháp luận đo lường đóng góp của công nghệ sinh học vào GDP theo chỉ đạo của lãnh đạo Cục. Theo ông, đây là lĩnh vực mới, bởi công nghệ sinh học tác động xuyên suốt và hiện diện trong rất nhiều ngành, sản phẩm.

Ông Bùi Duy Nghĩa, Trưởng phòng Thống kê KH&CN, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS). Ảnh: Hà Tuấn Định nghĩa quyết định con số
Ông Nghĩa cho rằng cách định nghĩa công nghệ sinh học sẽ quyết định cách xác định công nghiệp công nghệ sinh học, và rộng hơn là kinh tế sinh học. Hiện chỉ OECD đưa ra định nghĩa kinh tế sinh học, gồm phát minh, phát triển, sản xuất và sử dụng các sản phẩm, quá trình sinh học. Ngay cả Mỹ và Nhật Bản cũng gặp vướng mắc khi xác định khái niệm, nên kết quả thống kê trong các báo cáo của họ khác nhau.
Ông lấy ví dụ một mũi vắc xin Pfizer giá 100.000 đồng. Theo ông, để có các sáng chế liên quan đến công nghệ mRNA, người ta chi khoảng 20 triệu USD. Nhưng để đưa vắc xin ra thị trường, cần đầu tư khoảng 200 tỉ USD cho nhà máy, công nghệ bảo quản lạnh và thay đổi hạ tầng. Câu hỏi đặt ra là phần hạ tầng đó có được tính vào kinh tế sinh học hay không.
Với xăng sinh học E5, E10, phần giá trị sinh học chỉ chiếm một phần nhỏ trong mỗi lít xăng. Tuy vậy, nó kéo theo thay đổi hạ tầng vận chuyển và lưu trữ, cùng với môi trường trong lành hơn và việc giảm khai thác tài nguyên không tái tạo. Theo ông, những đóng góp này chưa được phản ánh trực tiếp trong GDP.
Công nghệ sinh học ‘lõi’ 0,1%, kinh tế sinh học 17%
Theo ông Nghĩa, do mỗi quốc gia định nghĩa công nghệ sinh học theo cách riêng nên kết quả đo cũng khác nhau. Tỉ trọng này ở Hoa Kỳ là 2–5% GDP, ở Liên minh châu Âu là 5%, còn ở Trung Quốc là 16%. Trung Quốc có tỉ lệ cao vì tính toàn bộ tri thức truyền thống và tri thức nông nghiệp vào công nghệ sinh học. Ngay trong cùng một khu vực, con số cũng chênh nhau tùy phương pháp: có báo cáo ghi công nghệ sinh học chiếm 15% ở EU, có báo cáo chỉ ghi 7%.
New Zealand là ví dụ rõ nhất khi dùng hai cách tính. Nếu chỉ tính công nghệ sinh học lõi, tỉ trọng chỉ là 0,1%. Nếu đo theo kinh tế sinh học, con số lên tới 17%, gấp khoảng 170 lần.
Đo tỉ trọng sinh học qua giá trị gia tăng
Dựa trên kinh nghiệm quốc tế, nhóm nghiên cứu đưa ra ba mức độ đo lường. Nhóm đã dự thảo và đề xuất phương pháp thử nghiệm là đo tỉ trọng sinh học thông qua giá trị gia tăng. Căn cứ của phương pháp là hệ thống phân ngành kinh tế (VSIC) do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tham mưu Thủ tướng ban hành.
Với hoạt động công nghệ sinh học lõi, nhóm đề xuất tính 100% giá trị. Máy móc bảo quản và các khâu đưa sản phẩm ra thị trường được gán hệ số tương ứng, dựa trên phần đóng góp về tài sản trí tuệ và thương hiệu.
Theo ông Nghĩa, các mục tiêu tại Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đều quy ra GDP. Với nền kinh tế khoảng 3.000 tỉ USD vào năm 2045, phần kinh tế sinh học khi đó phải xác định được ở mức khoảng 200 tỉ USD. “Đó thực sự là một áp lực. Nói gì thì nói, làm công tác thống kê, nôm na là chúng tôi đi đếm chứng từ từ các viện, trường, công ty, quỹ”, ông nói.
Ông đề nghị các nhà khoa học, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách cùng hỗ trợ việc nhận diện công nghệ sinh học, cũng như các ngành, lĩnh vực, sản phẩm liên quan. Ông Bùi Duy Nghĩa bày tỏ tin tưởng rằng, với Nghị quyết 36, Quyết định 208/QĐ-TTg của Thủ tướng và các quyết định của Bộ KH&CN, mục tiêu này sẽ sớm đạt được.
-
15/10/2026 14:50 PGS.TS Huỳnh Thành Đạt: Thương mại hóa công nghệ sinh học là động lực tăng trưởng mới
Phát biểu tại Hội thảo, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt - Phó trưởng ban tuyên giáo Trung ương đánh giá chủ đề "Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số" có ý nghĩa thiết thực. Phát triển công nghệ sinh học và kinh tế sinh học không chỉ là câu chuyện của một ngành công nghệ hay một lĩnh vực sản xuất, mà còn là vấn đề về năng lực làm chủ công nghệ, khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế và sự gắn kết giữa nghiên cứu với yêu cầu phát triển của đất nước.

PGS.TS Huỳnh Thành Đạt Tuy nhiên, theo PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, dù có tiềm năng ứng dụng rộng lớn trong nông nghiệp, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường... tiềm năng công nghệ không tự động chuyển thành giá trị kinh tế. Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản phẩm được thị trường chấp nhận vẫn là thách thức cần giải quyết.
Để tháo gỡ vấn đề này, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt gợi mở 3 định hướng trọng tâm:
1. Tăng cường nhận thức về kinh tế sinh học và đo lường đóng góp đối với nền kinh tế
Kinh tế sinh học mở ra khả năng khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sinh học, kết hợp tri thức khoa học và công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Để nhận diện đầy đủ tiềm năng, cần quan tâm đo lường đóng góp của công nghệ sinh học đối với GDP và nền kinh tế, qua đó đánh giá rõ hơn giá trị tạo ra ở các khâu nghiên cứu, sản xuất, chế biến và thương mại hóa. Đồng thời, cần đẩy mạnh truyền thông khoa học, giới thiệu các mô hình ứng dụng hiệu quả giúp doanh nghiệp và người dân hiểu rõ cơ hội, lợi ích cũng như yêu cầu về chất lượng, an toàn sinh học và bảo vệ môi trường.
2. Gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nhu cầu thị trường
Đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm đòi hỏi thời gian, sự hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, đánh giá chất lượng và nguồn lực đầu tư đáng kể. Giá trị của kết quả nghiên cứu không chỉ nằm ở tính mới về khoa học, mà còn ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn và tạo giá trị cho sản xuất, đời sống.
Muốn rút ngắn khoảng cách này, cần tăng cường gắn kết giữa nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp và nhà đầu tư ngay từ khâu xác định hướng nghiên cứu. Cần nhìn nhận đúng tính chất và mức độ rủi ro của đầu tư cho công nghệ sinh học. Nếu thiếu nguồn lực cho giai đoạn hoàn thiện, thử nghiệm và phát triển sản phẩm, nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị sẽ khó đi đến đích.
3. Xây dựng hệ sinh thái kết nối cung – cầu, phát huy vai trò chủ động của doanh nghiệp
Thương mại hóa công nghệ sinh học đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên: viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức và phát triển công nghệ; doanh nghiệp nhận diện nhu cầu, tổ chức sản xuất, đưa sản phẩm ra thị trường; các tổ chức trung gian kết nối đối tác và thúc đẩy chuyển giao.
Sự liên kết này phải tạo ra kết quả thực chất, không dừng ở trao đổi thông tin hay ký kết hợp tác. Doanh nghiệp cần chủ động đặt hàng, đồng hành cùng nhà khoa học; nhà khoa học cần quan tâm đến khả năng chuyển giao và nhu cầu người sử dụng, từ đó hình thành hệ sinh thái kinh tế sinh học có khả năng huy động nguồn lực xã hội và nâng cao sức cạnh tranh của công nghệ sinh học Việt Nam.

PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh, phát triển kinh tế sinh học đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, năng lực khoa học và công nghệ, nguồn lực đầu tư và sự phối hợp giữa các chủ thể.
"Tôi mong rằng Hội thảo sẽ tập trung trao đổi vào những vấn đề thiết thực: đo lường đóng góp của công nghệ sinh học đối với nền kinh tế; đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường; giải quyết bài toán đầu tư và rủi ro; xây dựng hệ sinh thái kết nối cung – cầu công nghệ.
Tôi tin tưởng những ý kiến, kinh nghiệm được chia sẻ tại Hội thảo sẽ góp phần thúc đẩy thương mại hóa công nghệ sinh học, hiện thực hóa chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững đất nước." - PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh.
-
15/10/2026 14:35 Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Trần Văn Tùng - Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) nhấn mạnh: ''Công nghệ sinh học là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn'

TS. Trần Văn Tùng - Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam phát biểu khai mạc Hội thảo. Ảnh: Hà Tuấn Kính thưa các nhà khoa học, các chuyên gia, các doanh nghiệp cùng quý vị đại biểu có mặt tại đây hôm nay.
Lời đầu tiên, thay mặt Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tôi xin nhiệt liệt chào mừng toàn thể quý vị đã đến tham dự Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số".
Sự hiện diện của các cơ quan quản lí, các viện nghiên cứu, trường đại học cùng lực lượng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo ngày hôm nay là minh chứng sinh động cho tầm quan trọng và tính thời sự nóng hổi của chủ đề này.
Thưa quý vị,
Chúng ta đang sống trong một thời điểm mà các mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên hóa thạch hay lao động giá rẻ đã không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững.
Kinh tế sinh học, mô hình phát triển dựa trên việc sáng tạo, phát triển và sử dụng các nguồn tài nguyên sinh học tái tạo, đang nổi lên như một động lực then chốt, một trụ cột mới cho nền kinh tế toàn cầu. Không chỉ đơn thuần là giải pháp thay thế, kinh tế sinh học mở ra một phương thức sản xuất mới, thân thiện với môi trường, tối ưu hóa dòng tuần hoàn vật chất và đảm bảo sức khỏe cho xã hội.
Đặc biệt, sự hội tụ giữa công nghệ sinh học và kỉ nguyên số đang tạo ra những bước nhảy vọt chưa từng có.
Trước đây, quá trình nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành sinh học thường kéo dài hàng thập kỉ với chi phí đắt đỏ và tỉ lệ rủi ro cao. Giờ đây, khi công nghệ sinh học kết hợp cùng Trí tuệ nhân tạo (AI), Dữ liệu lớn (Big Data), Điện toán đám mây và Chuỗi khối (Blockchain), chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của khái niệm “Sinh học kĩ thuật số”. Sự giao thoa này không chỉ tăng tốc quá trình sáng tạo mà còn hạ thấp rào cản đưa các phát minh, các sáng chế sinh học vào đời sống thực tiễn.
Công nghệ sinh học đang được ứng dụng vào rất nhiều sản phẩm và dịch vụ đa dạng. Ngoài những lĩnh vực truyền thống như y – dược; chế biến nông sản, thực phẩm; các chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp… hiện nay đã xuất hiện những khái niệm mới mẻ như liệu pháp tế bào và gene chính xác, công nghệ mRNA, y học nền tảng, sinh học tổng hợp… cho đến công nghệ làm đẹp sinh học, dinh dưỡng cá thể hóa. Công nghệ sinh học thậm chí được ứng dụng cả vào giải trí và thời trang.
Sáng nay, chúng tôi có tham gia một cái phiên hội thảo rất quan trọng liên quan đến việc ứng dụng công nghệ sinh học vào lĩnh vực nông nghiệp. Tôi rất ấn tượng vì có nhiều vấn đề được đặt ra với các diễn giả.
Tôi nhớ có một bạn tên là Hạnh, bạn này đã từng đạt giải quán quân Startup năm 2023. Bạn ấy chế biến từ những phần bỏ đi, phần rác thải của cà phê, bã cà phê, bã sắn. Những ý tưởng như vậy là đã đưa được công nghệ sinh học vào trong đời sống. Sản phẩm đạt hiệu quả kinh tế xã hội rất cao.

Kính thưa quý vị,
Việt Nam sở hữu lợi thế vô cùng to lớn để phát triển kinh tế sinh học. Chúng ta là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, sở hữu nền nông nghiệp phát triển và nguồn phụ phẩm sinh học dồi dào chưa được khai thác hết giá trị. Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đã khẳng định rõ: Công nghệ sinh học là ngành kinh tế - kĩ thuật quan trọng, là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn.
Mục tiêu đã được xác định đến năm 2045 là công nghệ sinh học đóng góp 10 - 15% vào GDP của cả nước.
Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra một câu hỏi lớn: Làm thế nào để biến tiềm năng trí tuệ và tài nguyên sinh học thành giá trị thương mại thực tế?
Chúng ta thẳng thắn nhìn nhận rằng: Khoảng cách từ "phòng thí nghiệm" đến "thị trường" tại Việt Nam vẫn còn những khó khăn đáng kể. Đây chính là lý do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Tạp chí Một Thế Giới phối hợp với Cục Thông tin - Thống kê (Bộ KH&CN) tổ chức Hội thảo ngày hôm nay.
Với vai trò là cầu nối thông tin, tri thức và công nghệ, chúng tôi mong muốn tạo ra một diễn đàn đa chiều, nơi các nhà chính sách, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng ngồi lại để tháo gỡ các nút thắt này.
Kính thưa các quý vị đại biểu,
Chặng đường phía trước đòi hỏi sự chung tay đồng lòng của tất cả các bên. Nhà khoa học cần tư duy thị trường; Doanh nghiệp cần chủ động đầu tư cho công nghệ sâu; và Cơ quan quản lý cùng các Hội nghề nghiệp cần tạo ra môi trường thể chế và thông tin thuận lợi nhất.
Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự góp mặt của các chuyên gia đầu ngành cùng những tham luận chất lượng, hội thảo ngày hôm nay sẽ mang lại những góc nhìn sắc bén, những giải pháp đột phá và mở ra nhiều cơ hội hợp tác thiết thực.
Với những tình cảm tốt đẹp nhất, tôi xin chính thức tuyên bố khai mạc Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số".
Chúc các quý vị đại biểu sức khỏe, hạnh phúc. Chúc Hội thảo của chúng ta thành công rực rỡ!
-
15/10/2026 14:25 Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” chính thức bắt đầu
Hội thảo có sự tham dự của các vị đại biểu: Ông Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, ông Trần Văn Tùng - nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), ông Nguyễn Quyết Chiến - Tổng thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), ông Trần Đắc Hiến - Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá Khoa học...

Ông Huỳnh Thành Đạt - Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và ông Trần Văn Tùng - nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI). 
PGS.TS Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). 
PGS.TS Đỗ Văn Hùng - Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 

Ông Trần Đắc Hiến - Cục trưởng Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá Khoa học. 
Bà Nguyễn Thị Hồi - Phó Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam. 
Ông Lưu Quang Định - Tổng thư ký Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Một Thế Giới. 
Các đại biểu lắng nghe các tham luận tại Hội thảo. 
Bà Lê Thị Khánh Vân - Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam. -
15/10/2026 14:21 Kinh tế sinh học - lời giải của bài toán chuyển dịch mô hình kinh tế chiều sâu
Sự cần thiết phải đẩy mạnh lĩnh vực kinh tế sinh học tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã được nhiều chuyên gia kinh tế và nhà quản lí khoa học công nghệ đặc biệt nhấn mạnh. Mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô đang dần chạm tới ngưỡng giới hạn, đòi hỏi nền kinh tế phải chuyển dịch mô hình sang chiều sâu, dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng cao.
Kinh tế sinh học chính là lời giải tối ưu cho bài toán này, bởi nó vừa giải quyết được áp lực về an ninh lương thực, y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vừa đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về phát triển xanh và giảm phát thải ròng. Theo khuyến nghị từ các chuyên gia đầu ngành, để khơi thông nguồn lực này, Việt Nam cần có những chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu sinh học, coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đồng thời thiết lập các hành lang pháp lí thông thoáng để thu hút các quỹ đầu tư mạo hiểm vào lĩnh vực công nghệ sinh học rủi ro cao nhưng tiềm năng lợi nhuận lớn.
Mặc dù tiềm năng rộng mở, con đường hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế sinh học tại Việt Nam đang gặp không ít điểm nghẽn trầm trọng cần được tháo gỡ kịp thời. Điểm nghẽn đầu tiên và lớn nhất nằm ở cơ chế, chính sách tài chính và định giá tài sản trí tuệ hình thành từ Ngân sách Nhà nước. Các quy định pháp luật về quản lí, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ trong các cơ quan nghiên cứu công lập vẫn khiến các nhà khoa học và các viện trường lúng túng, thậm chí e ngại rủi ro pháp lí khi tiến hành hợp tác thương mại hóa với khối doanh nghiệp.
Điểm nghẽn thứ hai là sự thiếu vắng một thị trường kết nối cung - cầu công nghệ sinh học thực chất và đồng bộ. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vẫn quen với việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài hoặc sử dụng phương thức sản xuất truyền thống, thiếu niềm tin vào năng lực của các nhà khoa học trong nước, trong khi các nhà khoa học lại thiếu thông tin thị trường và kỹ năng quản trị kinh doanh để đưa sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng. Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu phát triển sản phẩm mẫu và thương mại hóa thử nghiệm còn vô cùng hạn chế, chưa hình thành được các quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên biệt cho lĩnh vực công nghệ sinh học đầy tiềm năng nhưng nhiều rủi ro kỹ thuật này.
Để giải quyết những điểm nghẽn nêu trên, đòi hỏi phải có sự chung tay hành động đồng bộ từ cả hệ thống chính trị, cơ quan quản lí nhà nước, viện trường và cộng đồng doanh nghiệp thông qua một hệ thống giải pháp toàn diện.
Trước hết, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lí về sở hữu trí tuệ, trao quyền tự chủ thực chất cho các viện nghiên cứu và trường đại học trong việc định giá, quyết định chuyển giao hoặc góp vốn bằng tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước. Cần có các cơ chế tài chính ưu đãi, quỹ hỗ trợ rủi ro cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ sinh học, tạo động lực vật chất và tinh thần thỏa đáng cho các nhà khoa học.
Bên cạnh đó, việc xây dựng và củng cố hệ sinh thái kết nối cung - cầu công nghệ thông qua các sàn giao dịch công nghệ, các trung tâm ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sinh học là điều kiện tiên quyết để rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra thị trường thương mại. Doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí trung tâm, đóng vai trò là nhà đặt hàng và đồng hành cùng các nhà khoa học ngay từ khâu lên ý tưởng nghiên cứu để đảm bảo sản phẩm làm ra đáp ứng đúng nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” do Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) phối hợp tổ chức. Chính trong bối cảnh nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức ấy, việc tổ chức Hội thảo “Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số” vào thời điểm này mang ý nghĩa thời sự vô cùng cấp thiết. Sự kiện do Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI), Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) phối hợp tổ chức chiều nay (15/10) vừa là một diễn đàn học thuật, vừa là cầu nối chiến lược quy tụ các nhà quản lí, chuyên gia hàng đầu, viện nghiên cứu, quỹ đầu tư và khối doanh nghiệp.
Hội thảo đóng vai trò là tiếng nói định hướng chính sách, là nơi mổ xẻ trực diện các điểm nghẽn trong định giá và chuyển giao công nghệ, đồng thời đề xuất những mô hình hợp tác công - tư hiệu quả nhằm khai thác triệt để tiềm năng kinh tế sinh học của đất nước.
Việc tổ chức sự kiện ngay trong thời điểm này sẽ tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần hiện thực hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, đưa kinh tế sinh học thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên số.
-
15/10/2026 13:50 Kỳ vọng cao, thực tế khiêm tốn
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế sinh học đang nổi lên như một trục chiến lược cốt lõi định hình lại mô hình tăng trưởng của nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển. Không chỉ giới hạn trong phạm vi các phòng thí nghiệm nghiên cứu hay những bài báo khoa học hàn lâm, công nghệ sinh học giờ đây đã và đang trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, mang lại những giá trị kinh tế khổng lồ thông qua việc tối ưu hóa tài nguyên sinh học, phát triển y sinh học hiện đại, nông nghiệp thông minh và các vật liệu sinh học thay thế thân thiện với môi trường.
Đối với Việt Nam, một quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng đa dạng sinh học cao, việc khai thác các thành tựu nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực sinh học phục vụ phát triển kinh tế sinh học là một hướng đi tất yếu, mang tính chiến lược dài hạn nhằm vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Mục tiêu chiến lược của Việt Nam là đến năm 2045, ngành công nghiệp sinh học sẽ đóng góp từ 10 đến 15% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia diễn ra ngày 13/01/2025 tại Hội trường Diên Hồng, Tổng bí thư Tô Lâm nhấn mạnh các công nghệ mũi nhọn có tính đột phá lớn như công nghệ sinh học (bao gồm công nghệ gen, y sinh, nông nghiệp công nghệ cao) phải được coi trọng để tạo ra năng suất và giá trị gia tăng thực sự.

Mục tiêu chiến lược của Việt Nam là đến năm 2045, ngành công nghiệp sinh học sẽ đóng góp từ 10 đến 15% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nền kinh tế sinh học của Việt Nam trong những năm gần đây có những bước tiến nhưng đồng thời cũng còn không ít khoảng cách đáng kể khi so sánh trên bình diện quốc tế. Trên thế giới, quy mô của kinh tế sinh học đang mở rộng với tốc độ chóng mặt, đóng góp hàng nghìn tỉ USD vào GDP toàn cầu và tạo ra hàng chục triệu việc làm chất lượng cao. Cụ thể, quy mô nền kinh tế sinh học hiện đã đạt 5 nghìn tỉ USD, và được dự báo đạt tới 30 nghìn tỉ USD vào năm 2050.
Theo các báo cáo và thống kê quốc tế từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nhiều quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ đã đạt tỉ trọng kinh tế sinh học từ 10% đến hơn 20% tổng GDP quốc gia, với mức đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D) sinh học chiếm tỉ lệ lớn trong ngân sách công nghệ quốc gia.
Tại Việt Nam, chưa có con số chính thức về quy mô kinh tế sinh học, nhưng với GDP hiện khoảng 514 tỉ USD và kinh tế sinh học còn chưa đạt mục tiêu đóng góp 10% GDP, thì quy mô của nó chắc chắn rất nhỏ bé so với thế giới. Dù tiềm năng từ nguồn gen bản địa và điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho công nghệ sinh học nông nghiệp, thủy sản và dược liệu là rất lớn, mức độ đóng góp trực tiếp của kinh tế sinh học vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.
Nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo trong nước đã làm chủ được các kỹ thuật nền tảng quan trọng như công nghệ gene, nuôi cấy mô tế bào, lên men vi sinh và sản xuất vắc-xin, chế phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp và y tế. Tuy nhiên, khi đặt lên bàn cân so sánh với các cường quốc kinh tế sinh học như Hoa Kỳ, các nước EU hay một số quốc gia tại khu vực châu Á như Hàn Quốc, Singapore và Trung Quốc, Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn đầu của tiến trình chuyển dịch.
Trong khi các quốc gia tiên tiến đã tích hợp sâu rộng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn vào quản trị chuỗi giá trị sinh học tuần hoàn, hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều đứt gãy. Các nghiên cứu khoa học công nghệ xuất sắc tại các viện trường thường dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc các bài báo công bố quốc tế, thiếu vắng các bước đệm thử nghiệm thương mại, dẫn đến tình trạng lãng phí tài sản trí tuệ và bỏ lỡ cơ hội chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế thực tiễn.




