Khoa học xã hội và nhân văn là thước đo trình độ văn minh của quốc gia
GS-TS Lê Văn Lợi, Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nhấn mạnh: Cần khắc phục nhận thức coi nhẹ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Phải khẳng định lĩnh vực này là một trong những thước đo trình độ văn minh của quốc gia, dân tộc.
- Thưa ông trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao, bền vững và tự chủ chiến lược, ông nhìn nhận vai trò của khoa học xã hội và nhân văn (KHXHNV) hiện nay đã thay đổi như thế nào so với các giai đoạn trước?
- GS-TS Lê Văn Lợi: KHXHNV, dù là trước đây hay hiện nay, đều đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội, đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. KHXHNV cung cấp luận cứ khoa học cho định hướng chiến lược của Đảng, đổi mới mô hình phát triển, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ quyền quốc gia, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa dân tộc.

KHXHNV luôn đóng vai trò là nền tảng tri thức của xã hội, là nguồn lực tinh thần cho sự phát triển bền vững đất nước. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trong bối cảnh mà sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo đếm bằng tiềm lực kinh tế, quốc phòng, mà còn được quyết định bởi sức mạnh mềm văn hóa, thì KHXHNV lại càng khẳng định vai trò quan trọng của mình.
Chúng ta cần khắc phục nhận thức coi nhẹ KHXHNV, cho rằng ngành khoa học này ít có giá trị ứng dụng trên thực tế. Phải khẳng định rằng, sự phát triển KHXHNV là một trong những thước đo trình độ văn minh của một quốc gia, dân tộc.
Tất nhiên, những yêu cầu mới đặt ra của thời đại cũng đòi hỏi các nhà nghiên cứu KHXHNV phải có sự đổi mới quyết liệt trong tư duy, phương pháp nghiên cứu, thì mới có thể khẳng định được vị thế, vai trò chiến lược của KHXHNV đối với sự phát triển của đất nước.
- Có những ý kiến cho rằng giới trẻ ngày nay lựa chọn công nghệ, tài chính, kinh doanh thay vì KHXHNV. Liệu KHXHNV có đang kém hấp dẫn với người trẻ, và đâu là giải pháp cho thực trạng này?
- GS-TS Lê Văn Lợi: Đây là thực tế đã diễn ra trong một thời gian dài. Nhiều ngành KHXHNV, mà chúng ta có thể gọi là ngành “hiếm”, như khảo cổ học, ngôn ngữ học, Hán Nôm... đang có nguy cơ mai một khi không thu hút được người học.
Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, chẳng hạn như triển vọng nghề nghiệp, triển vọng thu nhập sau khi tốt nghiệp, sự đánh giá, nhìn nhận của xã hội về KHXHNV, hay sự thiếu hấp dẫn của chương trình đào tạo...
Cần phải có chính sách đầu tư cho KHXHNV, qua đó làm thay đổi nhận thức của mọi người về lĩnh vực này. Ví dụ như xây dựng cơ chế ưu đãi, khuyến khích nhằm thu hút những học sinh tài năng theo học. Bên cạnh đó, tự thân mỗi ngành học cũng phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, giúp cho tri thức KHXHNV trở nên gần gũi, mang tính ứng dụng cao.
Trong thời đại ngày nay, khi đường biên giữa các ngành khoa học bắt đầu rộng mở, sự giao thoa giữa các ngành khoa học ngày càng trở nên phổ biến, việc đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành, bao gồm cả liên ngành giữa KHXHNV với khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ như chúng ta vừa nhắc đến, cũng sẽ mang đến nhiều khả năng cho KHXHNV trong việc gia tăng sức hút của mình.
- Sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị với mục tiêu tạo đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Quốc gia, KHXHNV có chuyển động ra sao, thưa ông?
- GS-TS Lê Văn Lợi: Nghị quyết 57 là một trong “bộ tứ trụ cột” giúp đất nước cất cánh. Nghị quyết này có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ những rào cản đối với sự phát triển khoa học, công nghệ nói chung và KHXHNV nói riêng, thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá đúng mức của Đảng về vai trò của khoa học đối với sự phát triển đất nước.
Từ khi Nghị quyết 57 được ban hành, có thể thấy, một bầu không khí sôi nổi, khẩn trương đang diễn ra trong đời sống khoa học ở Việt Nam. Một mặt, Chính phủ đã có sự chỉ đạo quyết liệt nhằm thể chế hóa những quan điểm đột phá của Nghị quyết 57, mặt khác, bản thân các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học cũng tích cực hưởng ứng và chuẩn bị sẵn sàng cho việc đẩy mạnh hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn mới.
Viện Hàn lâm KH-XH Việt Nam tự xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc góp phần tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Chúng tôi đã đề xuất và mở mới một số chương trình nghiên cứu trọng điểm theo tinh thần của Nghị quyết 57. Trong đó, có 4 chương trình đã được triển khai ngay trong cuối năm 2025: “KHXHNV phục vụ phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội tại địa phương giai đoạn 2025-2030”; “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” (giai đoạn 1: 2025-2030); “Lập bản đồ dữ liệu phục vụ nghiên cứu KHXHNV tại Việt Nam: Thí điểm tại 3 tỉnh mới” (2025-2028); “Đánh giá tác động của sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và giải pháp quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ mới” (2025-2028).
Giai đoạn vừa qua, Viện đã chủ động triển khai, đảm bảo chất lượng các đề án quan trọng đối với sự phát triển KHXHNV, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ. Công tác tư vấn chính sách được thực hiện tích cực với nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, quan hệ quốc tế…
- Đối với Viện Hàn lâm KH-XH Việt Nam, đâu là trọng tâm nghiên cứu trong giai đoạn tới?
- GS-TS Lê Văn Lợi: Trong giai đoạn tới, bối cảnh quốc tế vẫn có những biến động khó lường, khó đoán định, sự phát triển của công nghệ số, của trí tuệ nhân tạo sẽ còn tạo nên những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội, trong mối quan hệ giữa con người với con người. Với Đại hội XIV của Đảng, đất nước ta bước vào kỷ nguyên vươn mình, với những yêu cầu đặt ra ngày càng cao hơn, đòi hỏi giới nghiên cứu KHXHNV cùng tham gia giải quyết, nhằm phục vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Trong bối cảnh đó, Viện Hàn lâm KH-XH Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản về KHXHNV, qua đó củng cố, làm phong phú nền tảng tinh thần xã hội, nâng cao nhận thức của xã hội về văn hóa, lịch sử, tư tưởng dân tộc, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Viện cũng nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, đúc rút bài học kinh nghiệm và hướng tới hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu các vấn đề của thế giới đương đại như: nghiên cứu chủ nghĩa tư bản số; nghiên cứu để xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội công nghệ số trong kỷ nguyên mới hay nghiên cứu những tinh hoa trí tuệ và thành tựu của nhân loại trong thế kỷ 21 để vận dụng vào phát triển đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn lớn, cấp bách của đất nước trong kỷ nguyên mới,
- Xin cảm ơn ông!
Số chữ: 1500