Kinh tế

Khủng hoảng giá dầu từng đẩy các nước chao đảo thế nào?

Bùi Tú 07/03/2026 16:16

Hơn nửa thế kỷ trước, thế giới cũng từng chứng kiến khủng hoảng giá dầu và rốt cuộc, mọi chuyện được giải quyết như thế nào?

Tháng 10 năm 1973, Tổng thống Richard Nixon đối mặt với muôn vàn sóng gió: khủng hoảng chi phí sinh hoạt bủa vây, nền kinh tế lao dốc và những rắc rối pháp lý từ vụ Watergate ngày càng siết chặt. Quyết định can thiệp vào sự độc lập của Cục Dự trữ Liên bang (Fed) nhằm ép buộc hạ lãi suất trước thềm bầu cử năm 1972 đã buộc nước Mỹ phải trả một cái giá cực đắt bằng một đợt lạm phát phi mã. Giữa lúc thị trường tài chính đang chao đảo, lò lửa Trung Đông bất ngờ bùng cháy. Ai Cập và Syria tiến quân vào Israel, chính thức mở màn Chiến tranh Yom Kippur.

Giá "vàng đen" lập tức leo thang khi các quốc gia sản xuất dầu mỏ Ả Rập áp đặt lệnh cấm vận, chủ động cắt giảm nguồn cung nhằm phản đối sự hậu thuẫn của Washington dành cho Tel Aviv. Nhìn lại lịch sử để thấy, một cú sốc năng lượng có thể nhanh chóng biến dạng thành một cuộc khủng hoảng toàn diện, định hình lại trật tự kinh tế theo những cách không ai có thể lường trước. Giữa thời điểm thế giới đang nín thở đánh giá những hệ lụy từ các đòn tấn công của Mỹ và Israel nhắm vào Iran, bài học từ hơn nửa thế kỷ trước vẫn vẹn nguyên giá trị răn đe.

Để tìm kiếm lối thoát, chính quyền Nixon đã nỗ lực xoay chuyển sự chú ý của dư luận ra khỏi biên giới nước Mỹ. Trước khi phải tuyên bố từ chức vào năm 1974, vị tổng thống này đã kịp thiết lập lại bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nới lỏng căng thẳng với Liên Xô, chấm dứt sự can dự trực tiếp của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến nơi hàng vạn lính Mỹ đã thiệt mạng – và phái Ngoại trưởng Henry Kissinger đi con thoi để duy trì hòa bình tại khu vực Trung Đông. Ngay cả khi người đứng đầu Nhà Trắng rệu rã trong khu nhà ở của mình, phụ thuộc vào thuốc an thần và rượu, cỗ máy ngoại giao của cường quốc số một thế giới vẫn hoạt động hết công suất. Giới chức chóp bu từng nuôi hy vọng rằng cử tri sẽ bị lóa mắt trước những thành tựu kiến tạo hòa bình mang tầm vóc quốc tế mà bỏ qua những bê bối chính trị trong nước.

Thực tế lại diễn ra hoàn toàn trái ngược. Các chiến tích ngoại giao đã thất bại trong việc cứu vãn tỷ lệ ủng hộ của công chúng dành cho người đứng đầu nước Mỹ, với mức sụt giảm nghiêm trọng từ 68% trong tháng 1 xuống chỉ còn vỏn vẹn 30% vào tháng 10 cùng năm. Khởi nguồn từ những tranh chấp lãnh thổ tại Trung Đông, ngọn lửa xung đột đã trực tiếp đẩy giá năng lượng lên mức đỉnh điểm, làm suy yếu tận gốc rễ sức mạnh của nền kinh tế Mỹ và vắt kiệt sự ủng hộ của người dân đối với một chính quyền vốn đã chìm trong khủng hoảng niềm tin. Chấm dứt sự lưu thông của dòng chảy dầu mỏ đồng nghĩa với việc định hình lại toàn bộ mối quan hệ của nước Mỹ với phần còn lại của thế giới, can thiệp sâu vào đời sống thường nhật của từng cá nhân theo những kịch bản vô tiền khoáng hậu.

Thử thách giới hạn của các liên minh chiến lược

Quay ngược dòng thời gian về năm 1973, Tây Đức và Nhật Bản nổi lên như những thế lực kinh tế mới, đe dọa trực tiếp đến vị thế độc tôn của Mỹ. Khi cuộc khủng hoảng nổ ra, những luồng ý kiến hoài nghi lập tức xuất hiện, cho rằng Washington đã ngấm ngầm đạo diễn cú sốc dầu mỏ này nhằm kìm hãm đà tăng trưởng vũ bão của các đối thủ cạnh tranh. Áp chiếu vào thực tại, khi cuộc chiến giữa các phe phái tại Trung Đông nổ ra ngay sau những xáo trộn từ chính sách thuế quan cứng rắn của chính quyền Donald Trump, các cường quốc đối trọng với Mỹ như Trung Quốc hoàn toàn có cơ sở để đặt ra những nghi vấn tương tự.

oil1.jpg
Có nói phải dùng ngựa kéo khi xe hết xăng

Mặc dù Bắc Kinh chủ yếu dựa vào nguồn than đá nội địa để vận hành nền công nghiệp, một tỷ lệ không nhỏ lượng dầu thô nhập khẩu của quốc gia này bắt buộc phải đi qua "yết hầu" eo biển Hormuz. Sự gián đoạn tại tuyến hàng hải huyết mạch này thừa sức gây ra một cơn địa chấn cho cỗ máy sản xuất của châu Á nếu xung đột kéo dài từ tháng này sang tháng khác.

Châu Âu cũng không thể thoát khỏi gọng kìm của sự đứt gãy năng lượng và áp lực địa chính trị. Chính quyền Mỹ đã liên tục công kích các đồng minh NATO về vấn đề chi tiêu quốc phòng, thương mại và các cam kết chiến lược. Áp lực này càng gia tăng khi Washington lớn tiếng chỉ trích các quốc gia châu Âu vì từ chối hậu thuẫn các chiến dịch quân sự nhắm vào Tehran. Tây Ban Nha bị dán mác là quốc gia thiếu tinh thần hợp tác khi cương quyết từ chối cho phép quân đội Mỹ sử dụng các căn cứ trên lãnh thổ của mình. Vương quốc Anh bị đánh giá là đã đánh mất di sản kiên cường của thời kỳ Winston Churchill.

Nền kinh tế đầu tàu châu Âu là Đức, dưới sự chèo lái của Thủ tướng Friedrich Merz, cũng đang phải gồng mình tìm kiếm giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô giữa vô vàn áp lực bủa vây. Dù lượng dầu thô nhập khẩu từ Trung Đông chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng cơ cấu năng lượng của toàn lục địa, bất kỳ một đợt tăng giá đồng loạt nào trên thị trường toàn cầu cũng sẽ giáng những đòn chí mạng vào Lục địa già. Các nền kinh tế tại đây vốn đang phải vật lộn với những khối nợ công kỷ lục và bóng ma lạm phát chực chờ quay lại. Khối liên minh xuyên Đại Tây Dương lại một lần nữa bị đặt lên bàn cân thử thách.

Henry Kissinger từng kỳ vọng năm 1973 sẽ là "Năm của châu Âu", một nỗ lực nhằm hàn gắn mối quan hệ đang ngày càng rạn nứt. Phía sau những tuyên bố ngoại giao hào nhoáng, các lãnh đạo cấp cao của Mỹ lại dành những lời lẽ gay gắt nhất để mổ xẻ sự thiếu kiên định của các đối tác chiến lược. Cuối năm 1973, châu Âu bị dồn vào chân tường, buộc phải đưa ra một lựa chọn sinh tử: đứng về phía Israel hay đảm bảo nguồn cung dầu mỏ từ khối Ả Rập. Phần lớn các quốc gia đã gạt bỏ các cam kết chính trị để chọn lấy nguồn năng lượng duy trì sự sống cho nền kinh tế.

Cú hích vĩ đại cho năng lượng thay thế

Hình ảnh mang tính biểu tượng nhất của cuộc khủng hoảng 1973-1974 tại Mỹ là những hàng dài phương tiện xếp hàng rồng rắn tại các trạm xăng. Tâm lý hoảng loạn lan rộng khắp mọi ngõ ngách khi chính phủ buộc phải áp dụng các biện pháp phân phối tem phiếu. Các trạm nhiên liệu trở thành điểm nóng của sự phẫn nộ, chủ trạm thường xuyên phải đối mặt với những lời lăng mạ từ đám đông mất kiên nhẫn. Các tài xế chấp nhận chờ đợi hàng giờ đồng hồ chỉ để mua được vài giọt nhiên liệu.

Nhiều người sinh ra hội chứng ám ảnh sự thiếu hụt, liên tục lái xe từ trạm này sang trạm khác để đổ thêm một hoặc hai đô la xăng nhằm giữ cho bình luôn đầy, dự phòng cho những kịch bản tồi tệ nhất. Chính những hàng dài chờ đợi này đã nuôi dưỡng một tâm lý khan hiếm nhân tạo, vượt xa những thiếu hụt thực tế về mặt vật lý. Đến cuối tháng 2 năm sau, khi tình hình hạ nhiệt, chính phủ mới đủ tự tin mở kho dự trữ chiến lược để xoa dịu thị trường.

oil2.jpg
Các nhân viên đổ xăng có lẽ là nhàn nhất

Khủng hoảng năng lượng cũng đóng vai trò như một chất xúc tác mạnh mẽ, kích hoạt cuộc đua tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thay thế. Trải qua những năm tháng chật vật với chi phí nhiên liệu đắt đỏ, hành vi tiêu dùng của người Mỹ đã thay đổi vĩnh viễn vào cuối thập niên 1970. Nhu cầu thị trường dịch chuyển ngoạn mục sang các dòng xe cỡ nhỏ, tiết kiệm nhiên liệu. Những chiếc Honda hay Volkswagen nhỏ gọn dần thế chỗ cho những cỗ máy khổng lồ, ngốn xăng vốn là niềm tự hào của ngành công nghiệp ô tô nội địa. Khách hàng giờ đây khao khát những mẫu xe thực dụng như Civic hay Rabbit, bỏ lại phía sau những chiếc Buick Riviera xa xỉ.

Trở lại với thực tại, các hãng sản xuất ô tô lớn đang có dấu hiệu đảo ngược những khoản đầu tư khổng lồ vào xe điện trong suốt nhiều năm qua. Đây là một quyết định tiềm ẩn vô số rủi ro, và họ hoàn toàn có thể phải hối hận nếu giá xăng dầu thế giới tiếp tục thiết lập những đỉnh cao mới và duy trì ở mức đó trong dài hạn. Chiến tranh một lần nữa phơi bày những điểm nghẽn chí mạng trong chuỗi cung ứng dầu khí toàn cầu. Bất kỳ một đứt gãy nào tiếp theo cũng sẽ chỉ đóng vai trò đẩy nhanh sự thoái trào của nhiên liệu hóa thạch và mở đường cho các giải pháp năng lượng thay thế vươn lên thống trị.

Sự đứt gãy cấu trúc chính trị và hệ lụy dài hạn

Các chính trị gia luôn biết cách tận dụng các cuộc khủng hoảng năng lượng để thúc đẩy các chương trình nghị sự mang tính cá nhân hoặc đảng phái. Những người phản đối chương trình đưa đón học sinh bằng xe buýt đã vin vào lý do lãng phí nhiên liệu để cố gắng dập tắt chính sách này. Mỏ dầu khổng lồ tại Alaska được phát hiện từ năm 1968 đã bị đóng băng nhiều năm do các nhóm hoạt động môi trường kiên quyết ngăn chặn việc xây dựng đường ống dẫn dầu ra bờ biển. Lệnh cấm vận dầu mỏ Ả Rập nổ ra đã cung cấp một lý do hoàn hảo để Quốc hội Mỹ gạt bỏ mọi rào cản sinh thái, nhanh chóng thông qua giấy phép khởi công dự án chỉ trong vòng vài tuần ngắn ngủi.

oil3.jpg
Nhiều người phải tích trữ và tính toán lượng xăng

Cuộc khủng hoảng hiện tại hoàn toàn có khả năng tạo ra những hiệu ứng tương tự, tạo đà để giới chức đẩy nhanh việc cấp phép khai thác trên các vùng đất liên bang và vùng biển ngoài khơi. Nó cũng là vũ khí sắc bén cho những phe phái ủng hộ chủ nghĩa bảo hộ, kêu gọi đưa các nhà máy sản xuất quay trở lại nước Mỹ, đồng thời sử dụng vỏ bọc an ninh quốc gia để hợp thức hóa mọi quyết định mang tính áp đặt kinh tế.

Phía sau những tuyên bố cứng rắn về thay đổi chế độ, an ninh khu vực hay việc chấm dứt những khẩu hiệu chống Mỹ dai dẳng suốt nhiều thập kỷ, thị trường tài chính toàn cầu đang ôm một nỗi sợ hãi sâu sắc về hiệu ứng domino. Các nền kinh tế cách xa tâm chấn của cuộc chiến hoàn toàn có thể bị kéo sập. Trở lại năm 1973, niềm kiêu hãnh của nước Anh vốn đã bị tổn thương sau khi đánh mất vị thế đế quốc, lại tiếp tục bị vùi dập. Khi giá dầu phi mã, quốc gia này biến thành một con nợ nghèo túng, phải chật vật gõ cửa các chủ nợ quốc tế.

Đỉnh điểm của sự tuyệt vọng là hình ảnh vị bộ trưởng tài chính phải bay đến khu nghỉ dưỡng St. Moritz xa xôi để cầu xin Quốc vương Iran nhượng lại chút dầu mỏ ngay sau khi ông này vừa kết thúc buổi trượt tuyết. Ký ức về một thời kỳ đen tối đó vẫn còn in đậm trong tâm trí giới tinh hoa tài chính London. Với một nền tảng tài khóa đang bộc lộ nhiều điểm yếu, một đợt gián đoạn nguồn cung quy mô toàn cầu đi kèm giá năng lượng tăng vọt đủ sức quật ngã nền kinh tế xứ sở sương mù thêm một lần nữa.

Các quốc gia đang phát triển thậm chí còn rơi vào thảm cảnh tồi tệ hơn khi hoàn toàn cạn kiệt nguồn ngoại tệ để thanh toán hóa đơn dầu mỏ đắt gấp bốn lần. Họ buộc phải thắt lưng buộc bụng, tìm kiếm các khoản viện trợ hoặc cắn răng vay mượn những khoản nợ khổng lồ, thứ đã bóp nghẹt đà tăng trưởng kinh tế của họ trong suốt nhiều năm sau đó.

Tầm ảnh hưởng của cú sốc 1973 còn len lỏi vào từng ngóc ngách của văn hóa đại chúng. Tháng 2 năm 1974, giải đua xe NASCAR danh giá Daytona 500 đã phải tự cắt giảm quãng đường xuống còn 450 dặm để tiết kiệm nhiên liệu. Cỗ máy điện ảnh Hollywood cũng nhanh chóng bắt nhịp khi phần phim mới nhất của điệp viên James Bond, "The Man With the Golden Gun", xoay quanh cuộc truy tìm một thiết bị có khả năng khai thác năng lượng mặt trời. Bản thân chàng điệp viên hào hoa cũng nhanh chóng nhận ra giá trị cốt lõi của thời cuộc khi thốt lên rằng năng lượng hóa thạch sẽ sớm cạn kiệt, năng lượng hạt nhân quá nguy hiểm, trong khi một tế bào năng lượng mặt trời siêu hiệu quả mới chính là chìa khóa giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu.

Những thay đổi được xúc tác bởi một cuộc khủng hoảng năng lượng có xu hướng bám rễ sâu vào hệ thống kinh tế xã hội, tồn tại rất lâu sau khi bản thân cuộc khủng hoảng đó đã kết thúc. Sự biến động khốc liệt của thị trường tước đoạt tài sản của người này nhưng lại xây dựng nên những đế chế tỷ đô cho kẻ khác. Những thói quen tiêu dùng hay các quy định quản lý vốn được xem là giải pháp thích ứng tình thế lại nghiễm nhiên trở thành các bộ luật vĩnh viễn.

Tại Mỹ, giới hạn tốc độ tối đa trên toàn quốc được ấn định ở mức 55 dặm một giờ vào tháng 1 năm 1974 nhằm mục đích bảo tồn nhiên liệu, nhưng đạo luật này đã tiếp tục chi phối hệ thống giao thông suốt hai thập kỷ trước khi bị bãi bỏ vào năm 1995. Hệ quả của những xung đột vũ trang lên các thị trường hàng hóa thiết yếu, và sự lây lan của nó đến những khu vực bình yên cách xa vùng Vịnh, chỉ mới đang ở những trang đầu tiên của một chương lịch sử đầy bất trắc.

Nổi bật
      Mới nhất
      Khủng hoảng giá dầu từng đẩy các nước chao đảo thế nào?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO