Thời sự

Kiểm soát chất lượng máy móc đã qua sử dụng ra sao?

Nam Phong 21/09/2026 08:14

Máy móc đã qua sử dụng không mặc nhiên đồng nghĩa với công nghệ lạc hậu, miễn là đáp ứng tốt các tiêu chuẩn về hiệu suất, an toàn và bảo vệ môi trường.

Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã ban hành Thông tư số 56/2026/TT-BKHCN nhằm quy định chi tiết việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng. Văn bản này đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong tư duy quản lí nhà nước, dịch chuyển trọng tâm từ việc kiểm soát thuần túy năm sản xuất sang việc đánh giá toàn diện năng lực vận hành, hiệu suất thực tế và mức độ bảo vệ môi trường của máy móc đã qua sử dụng.

Thay đổi tư duy quản lí máy móc đã qua sử dụng, công nghệ cũ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và công nghiệp hóa, nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp tại Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, việc mua sắm thiết bị mới hoàn toàn đôi khi vượt quá khả năng tài chính, khiến phương án tận dụng máy móc đã qua sử dụng trở thành hướng đi chiến lược của nhiều đơn vị.

Trước đây, việc quản lí thường mang tính định tính hoặc khắt khe dựa trên mốc thời gian xuất xưởng. Thông tư 56/2026/TT-BKHCN ra đời đã khắc phục những điểm hạn chế này bằng cách nhìn nhận khách quan hơn: thiết bị cũ không mặc nhiên đồng nghĩa với công nghệ lạc hậu. Điều cốt lõi là máy móc đó còn đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật, hiệu suất sản xuất, tiêu chuẩn an toàn, khả năng tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường đến mức độ nào. Quy định rõ ràng này tạo hành lang pháp lí minh bạch, vừa siết chặt quản lí để tránh biến Việt Nam thành "bãi rác công nghệ", vừa tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động sản xuất chân chính.

máy móc đã qua sử dụng
Máy móc đã qua vận hành, sử dụng về cơ bản khi nhập khẩu phải đảm bảo tuổi thiết bị không vượt quá 10 năm.

Theo nội dung của Thông tư, máy móc đã qua vận hành về cơ bản khi nhập khẩu phải đảm bảo tuổi thiết bị không vượt quá 10 năm. Riêng đối với một số nhóm thiết bị đặc thù trong lĩnh vực cơ khí, giới hạn này có thể được nới lỏng lên tới 20 năm tùy thuộc vào danh mục chi tiết tại Phụ lục I của văn bản. Song song với giới hạn về thời gian, thiết bị bắt buộc phải phù hợp với quy chuẩn kĩ thuật quốc gia (QCVN) về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Trường hợp chưa có QCVN, tiêu chuẩn áp dụng phải tương thích với tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn của các nước G7 và Hàn Quốc.

Đối với các dây chuyền công nghệ, tiêu chuẩn đánh giá được đặt ra ở mức độ cao hơn nhằm bảo đảm chất lượng đầu vào của quá trình sản xuất công nghiệp:

Công suất hoặc hiệu suất còn lại của dây chuyền phải đạt tối thiểu từ 85% trở lên so với thiết kế ban đầu.

Mức tiêu hao nguyên, vật liệu và năng lượng không được vượt quá 15% so với thông số thiết kế gốc.

Công nghệ không nằm trong danh mục cấm chuyển giao hoặc hạn chế chuyển giao, đồng thời phải đang được vận hành thực tế tại ít nhất 03 cơ sở sản xuất thuộc các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Những tiêu chí này khẳng định rằng tuổi đời chỉ là một trong các tiêu chuẩn tham chiếu. Một dây chuyền dẫu đã qua nhiều năm vận hành nhưng nếu duy trì được hiệu suất cao, mức tiêu hao thấp và đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn môi trường thì vẫn hoàn toàn có cơ sở pháp lí để được xem xét cho phép nhập khẩu vào Việt Nam phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất.

Cơ chế mở linh hoạt và chế tài xử lí nghiêm ngặt

Một điểm rất đáng chú ý của Thông tư 56 là việc nhà quản lí đã thiết kế những cơ chế mở mang tính thực tiễn cao. Cụ thể, văn bản cho phép xem xét giải quyết đối với các trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất thực tế tại Việt Nam nhưng có nhu cầu cấp bách cần nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng vượt quá giới hạn tuổi quy định nhằm duy trì hoặc mở rộng dây chuyền.

Tuy nhiên, điều kiện để được áp dụng cơ chế này không hề lỏng lẻo. Doanh nghiệp bắt buộc phải chứng minh công suất hoặc hiệu suất còn lại vẫn đạt từ 85% trở lên, mức tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng không vượt quá giới hạn 15% so với thiết kế ban đầu. Bên cạnh đó, đơn vị nhập khẩu phải có bản giải trình chi tiết về tính cần thiết của thiết bị, phương án sử dụng hiệu quả và phải thực hiện quy trình giám định độc lập theo đúng quy định pháp luật.

Cách quản lí này đặt trọng tâm vào giá trị sử dụng thực tế của công nghệ thay vì chỉ áp đặt một con số cứng nhắc trên giấy tờ. Đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp chủ động cân nhắc bài toán đầu tư: thiết bị cũ nhưng nếu có chất lượng vận hành tốt, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kĩ thuật khắt khe thì vẫn có thể tiếp tục tạo ra thặng dư kinh tế lớn.

Ở chiều ngược lại, Thông tư cũng quy định rõ các biện pháp kiểm soát chặt chẽ nhằm loại bỏ hoàn toàn những thiết bị kém chất lượng. Những loại máy móc cũ nhưng không bảo đảm yêu cầu về an toàn lao động, không tiết kiệm năng lượng, gây ô nhiễm môi trường hoặc không đạt các tiêu chí kĩ thuật trong quá trình giám định sẽ kiên quyết không được cấp phép nhập khẩu. Đối với dây chuyền công nghệ qua giám định mà không đạt chuẩn, doanh nghiệp buộc phải thực hiện các biện pháp xử lí theo quy định pháp luật hiện hành, bao gồm cả phương án buộc tái xuất hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Việc triển khai Thông tư 56/2026/TT-BKHCN không chỉ tạo ra khuôn khổ pháp lí vững chắc để kiểm soát dòng vốn đầu tư thiết bị, mà còn thể hiện tầm nhìn dài hạn trong chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia. Bằng cách định hướng doanh nghiệp đánh giá máy móc đã qua vận hành sử dụng dựa trên hiệu suất thực tế, chất lượng kĩ thuật và mức độ thân thiện với môi trường, hệ thống pháp luật đang tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Nổi bật
      Mới nhất
      Kiểm soát chất lượng máy móc đã qua sử dụng ra sao?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO