Lê Thiếu Nhơn tìm 'Từ khóa cho mây bay'
"Từ khóa cho mây bay" đặt thi ca vào độ vênh giữa thời công nghệ và miền ký ức. Từ đó, Lê Thiếu Nhơn nhìn lại hành trình thơ từ miền Trung đến đô thị, từ nỗi cô đơn đến lòng trắc ẩn trước đời sống nhiều biến động.
Từ khóa cho mây bay của Lê Thiếu Nhơn do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành, thuộc Tủ sách văn học. Tập thơ gồm 6 phần, với những bài tiêu biểu được ghi mốc từ năm 1996 đến 2023, cho thấy đây là tuyển thơ nhìn lại gần ba thập niên cầm bút của tác giả.
Sáu phần của tập thơ mang những nhan đề giàu hình ảnh: Cọng rơm xưa góp chiều cho đèn phố, Biển một ngày cũng náo nức trăm sông, Hoa trong gương xô ngược bóng mình, Nhân tình áo giấy vẫn ngồi đâu đây, Nghe tiếng khóc đẩy bầu trời lên cao, Mặt người đôi khi cô đơn hơn mặt đất... Cấu trúc này tạo thành đường đi nội tâm của người viết.

Lê Thiếu Nhơn đi tìm từ khóa cho mây bay
Lê Thiếu Nhơn sinh năm 1978 tại Phú Yên. Anh là nhà thơ, nhà báo, từng xuất bản nhiều tập thơ, văn xuôi và sách phê bình. Với Từ khóa cho mây bay, tác giả nhìn lại đường thơ từ thời học trò đến hiện tại.
Chia sẻ với Một Thế Giới, Lê Thiếu Nhơn cho biết anh làm thơ từ thời học trò ở miền duyên hải Nam Trung Bộ. Khi ngoảnh lại buổi đầu với thi ca, anh nhận ra trong thơ mình có “khuôn mặt buồn thương” và “trái tim ân cần” của những người quen sống ở tỉnh nhỏ. Từ xuất phát điểm đó, Từ khóa cho mây bay mang theo rất rõ dấu vết của quê xứ, của những thân phận khuất nẻo và một giọng thơ luôn nghiêng về phía cảm thông.
Miền Trung hiện lên đậm trong mạch thơ đầu, với gió, nắng, chân rạ, đồi cát, hàng cây, con đường, bài chòi và ám ảnh của vùng đất khắc nghiệt. Trong Gió miền Trung, câu thơ “Gió miền Trung lại buốt trong anh rồi” không chỉ gọi một hiện tượng thời tiết. Nó gọi về vùng ký ức quê hương. Gió trong thơ Lê Thiếu Nhơn nhiều khi là dấu vết quê nhà, sức ép đời sống và cảm giác một người phải tự đứng vững trước chao đảo.
Ở Gặp gió, hình ảnh “thế đứng xương rồng” gợi bản lĩnh tự vệ của cái tôi trữ tình. Người viết không lẩn tránh gió, mà học cách đứng lại trong gió. Quê xứ vì vậy không phải phông nền hoài niệm. Quê xứ là nơi hình thành tính cách, giọng điệu và sức chịu đựng của người làm thơ.
Đến Vội vàng quê cũ, cảm thức quê nhà chuyển sang nỗi tha hương. Câu “Di cư áo cơm, lưu đày thương nhớ” có sức khái quát. Nó nói trạng thái của nhiều người rời quê vào đô thị, mang theo ký ức, mặc cảm và nỗi khó xử khi quay về trước những đổi thay của quê cũ.
Niềm cô đơn nơi phố thị
Nếu miền Trung tạo nền ký ức, đô thị trong Từ khóa cho mây bay mở ra một trường cảm xúc khác. Ở đó có phố, vỉa hè, quán cà phê, bóng râm, ngoại ô, thành phố không em và những khoảng chật chội của đời sống hiện đại.
Khi nhập cư đô thị, Lê Thiếu Nhơn vẫn tiếp tục làm thơ. Anh thừa nhận khó phân định từng tác phẩm được gửi gắm bằng nụ cười hay nước mắt. Anh cũng nhìn thẳng vào nghịch lý của thế kỷ 21: công nghệ phát triển mạnh, trong khi thơ ngày càng ít người đọc.
Chật chội dậy hương chỉ bằng vài câu đã gợi áp lực sống. Cái nóng 37 độ C, khoảng bóng râm cuối cùng, nỗi lo ngày mai người khác “dành mất chỗ của hoa hồng” tạo nên một lát cắt đô thị cụ thể. Đô thị chật vì không gian sống, nhịp sống và cả sự tranh phần cho những điều cần được nâng niu.
Trong Ngõ về nhạt nắng, thành phố đi cùng tình yêu đã mất, với “một tình yêu chật vật” và “hai bàn tay khốn khó tìm nhau”. Nhà thơ giữ nỗi buồn ở mức lặng, có độ nén và hậu vị tự vấn. Thơ tình của anh không dừng ở mất mát lứa đôi. Nó còn nói về cách một người học nhìn đời bớt cay nghiệt hơn sau va đập.
Đến Buổi sáng ở Thủ Dầu Một, câu “Tôi mỗi ngày mỗi xa đô thị” tạo ra một khoảng cách tinh thần. Xa không hẳn là rời khỏi thành phố. Xa có thể là cảm giác không còn thuộc về nhịp sống đang cuốn mọi thứ đi quá nhanh.
Thi ca và câu hỏi về lòng tử tế
Một mạch quan trọng của Từ khóa cho mây bay là nỗi âu lo về con người. Tập thơ có quê xứ, tình yêu, nỗi buồn riêng, nhưng không khép lại trong thế giới cá nhân. Ở nhiều bài, cái tôi trữ tình đứng trước đời sống rối bời, nơi sự tử tế, thiên nhiên và ký ức đều mong manh.
Trong Bản tường trình giấc mơ đi vắng, câu hỏi “Phải nói điều gì cứu chuộc nỗi âu lo?” có thể xem như một điểm tựa tinh thần của tập thơ. Câu hỏi đó không tìm câu trả lời dễ dãi. Nó cho thấy thơ chấp nhận đứng trong bất an để dò tìm một khả năng cứu rỗi, dù rất nhỏ.

Ở Tĩnh lặng lúc giao mùa, câu “Sự tử tế càng ngày càng bị đẩy vào tuyệt lộ” đi thẳng vào một nỗi lo đạo đức. Nhà thơ không diễn giải dài dòng. Anh để câu thơ tự mang sức nặng. Từ nỗi buồn mùa, màu cúc trái vụ, tiếng ca sau vành nón đến mặt người dưng khô héo, bài thơ gợi cảm giác về một đời sống hao hụt lòng tin.
Mạch thơ này tiếp tục trong Viết cho cánh rừng sắp bị xóa sổ. Bài thơ là một phản ứng nhân văn trước mất mát. Cánh rừng, gốc cổ thụ, con suối, thú hoang và tiếng mõ chiều cùng tạo nên một không gian tổn thương. Khi cây xanh nằm xuống, phần bị mất còn là ký ức, văn hóa và nơi trú ẩn tinh thần của con người.
"Lòng trắc ẩn": Từ khóa của hành trình thơ Lê Thiếu Nhơn
Trả lời câu hỏi của phóng viên Một Thế Giới: “Nếu chọn một ‘từ khóa’ cho hành trình thi ca của mình, anh sẽ chọn từ nào?”, Lê Thiếu Nhơn cho biết anh chọn “lòng trắc ẩn”. Theo anh, không có lòng trắc ẩn thì không thể thấu hiểu và cảm thông cho nhân quần nhiều biến động.
Câu trả lời này mở ra một cách đọc Từ khóa cho mây bay. Tập thơ đi qua ký ức quê xứ, nỗi cô đơn đô thị và những lỡ làng riêng tư. Xa hơn, nhà thơ đặt con người trước va đập đời sống, nơi lòng trắc ẩn trở thành điều kiện để không khô cứng trước nỗi buồn, mất mát và biến động thời đại.
Độ vênh trong nhan đề không phải một cách chơi chữ. “Từ khóa” thuộc về công nghệ, còn “mây bay” thuộc về truyền thống thi ca gắn với cọng rơm, bài chòi, dòng sông, cánh rừng, bóng râm và mặt người. Một bên muốn gọi tên, lưu trữ, truy xuất. Một bên trôi đi, khuất lấp, chỉ có thể nắm bắt bằng cảm xúc và trải nghiệm.
Đặt hai thế giới cạnh nhau, Từ khóa cho mây bay hiện ra như một lựa chọn sinh tồn kiêu hãnh của thi ca. Thơ chấp nhận sống giữa thời đại số, nhưng không đồng hóa vào tốc độ của thời đại số. Thơ không cạnh tranh với công cụ tìm kiếm. Thơ giữ phần chậm, phần sâu và phần người.
“Từ khóa” trong tập thơ này không nhằm tối ưu dữ liệu. Nó mở vào ký ức, quê xứ, tình yêu, lương tri và nhân tính. Khi đời sống càng nhiều kết nối, con người vẫn có thể cô đơn. Khi công nghệ càng nhiều công cụ tìm kiếm, thi ca vẫn giữ nhiệm vụ khó hơn: Giúp con người tìm lại phần sâu kín nhất trong chính mình.

