Mỹ biến quyền tiếp cận AI thành vũ khí, đồng minh buộc phải chọn lợi ích quốc gia
Chỉ một lá thư từ Bộ Thương mại Mỹ đã khiến hai mô hình AI mới nhất của Anthropic bị rút khỏi phần lớn thị trường thế giới trong gần ba tuần.
Sự cố cho thấy Mỹ có thể biến quyền tiếp cận AI tiên tiến thành đòn bẩy an ninh. Nó cũng buộc đồng minh tính lại phương án cho ngày quyền truy cập bị rút.

Một lá thư khiến hai mô hình AI bị ngắt trên toàn cầu
Ngày 12/6, Cục Công nghiệp và An ninh (BIS) thuộc Bộ Thương mại Mỹ gửi Anthropic chỉ thị kiểm soát xuất khẩu, yêu cầu đình chỉ quyền truy cập mô hình AI Fable 5 và Mythos 5 với mọi công dân nước ngoài, dù họ ở trong hay ngoài nước Mỹ. Chỉ thị áp dụng cả với nhân viên nước ngoài của chính Anthropic. Không thể xác minh quốc tịch người dùng theo thời gian thực trên hàng chục nền tảng đám mây, công ty tắt cả hai mô hình cho toàn bộ khách hàng, từ AWS Bedrock, Google Cloud, Microsoft Foundry tới API trực tiếp của Claude.
Hai sản phẩm mới ra mắt ba ngày trước đó. Fable 5 có thêm nhiều lớp bảo vệ để phục vụ thị trường đại chúng, còn Mythos 5 ít giới hạn hơn và chỉ dành cho nhóm đối tác đã qua thẩm định. Cả hai dùng chung một mô hình lõi, nên khi lớp bảo vệ bị chọc thủng thì cả hai cùng nằm trong diện xử lí.
Nguyên nhân trực tiếp là báo cáo cho thấy lớp bảo vệ của Fable 5 có thể bị vượt qua, khiến mô hình phát hiện một số lỗ hổng phần mềm đã được biết tới và trong một trường hợp tạo mã minh họa cách khai thác.
Ngày 26/6, Bộ trưởng Thương mại Mỹ Howard Lutnick cho phép một số tổ chức trong danh sách được phê duyệt tiếp cận Mythos 5. Ngày 30/6, Mỹ dỡ bỏ biện pháp kiểm soát đối với cả hai mô hình. Fable 5 trở lại với người dùng toàn cầu từ ngày 1/7, còn Anthropic tiếp tục mở rộng quyền truy cập Mythos 5 cho các đối tác đã qua thẩm định. Trong gần ba tuần đó, một cơ quan hành pháp đã đóng rồi mở cánh cửa dẫn tới năng lực AI tiên tiến chỉ bằng quyết định hành chính. Vũ khí ở đây không phải chatbot biến thành tên lửa, mà là quyền kiểm soát công nghệ dò lỗ hổng.
Kiểm soát xuất khẩu AI dựa trên điều luật chưa từng dùng
Theo Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CISS), chỉ thị được cho là dựa trên điều 4817(b)(1), tiêu đề 50 của Bộ luật Mỹ, một thẩm quyền bắt nguồn từ Đạo luật Cải cách Kiểm soát Xuất khẩu năm 2018 (ECRA). Điều khoản này cho phép Bộ Thương mại Mỹ áp dụng biện pháp kiểm soát tạm thời với công nghệ mới nổi và công nghệ nền tảng.
CSIS nhận định đây là cách sử dụng thẩm quyền chưa từng có tiền lệ công khai. Tuy nhiên, tổ chức này cũng lưu ý cơ sở pháp lí để kiểm soát quyền truy cập từ xa vào một mô hình chạy trên máy chủ của doanh nghiệp vẫn chưa thật rõ ràng. Chưa có quy định nào trong Bộ Quy định quản lí xuất khẩu của Mỹ (EAR) hướng dẫn cụ thể việc thi hành theo cách này. Đây là hệ thống quy định chủ yếu điều chỉnh hàng hóa, phần mềm và công nghệ có thể dùng cho cả mục đích dân sự lẫn quân sự.
Công cụ đó vẫn còn nguyên. Ngày 2/6, tức mười ngày trước chỉ thị, Tổng thống Donald Trump đã kí sắc lệnh 14409 về thúc đẩy đổi mới và an ninh AI tiên tiến. Sắc lệnh giao các cơ quan liên bang xây dựng trong vòng 60 ngày một khuôn khổ tự nguyện, theo đó nhà phát triển có thể cho chính phủ tiếp cận mô hình tối đa 30 ngày trước khi phát hành cho các đối tác tin cậy. Văn bản nói rõ đây không phải cơ chế cấp phép hay xin phép bắt buộc.
Trong bài bình luận trên National Interest, chuyên gia quốc phòng và AI Al Vigier lập luận rằng vụ việc không có gì khiến một người theo chủ nghĩa hiện thực phải sốc. Quốc gia nắm năng lực chiến lược khan hiếm thì phân phối nó theo định mức, đó chính là công dụng của năng lực ấy. Mythos có thể tìm và khai thác lỗ hổng phần mềm nhanh hơn nhà nghiên cứu là người thật, nên nó thuộc cùng nhóm với công nghệ làm giàu uranium và tình báo tín hiệu, không phải nhóm phần mềm tiêu dùng.
Câu hỏi vì thế không phải Mỹ có quyền hành động hay không. Mỹ có quyền. Câu hỏi là cách dùng đòn bẩy này có phục vụ lợi ích Mỹ hay không, khi bên nhận đòn cũng tính toán theo đúng logic lợi ích ấy.
Khi đồng minh nhận ra công tắc nằm ở Mỹ
Điểm khiến đồng minh lo ngại không chỉ là quyết định đột ngột, mà là đường ranh được vạch theo quốc tịch thay vì mức độ rủi ro. Ông Vigier nêu ví dụ rằng theo cách phân loại dựa trên quốc tịch, một quan chức quốc phòng Canada, một ngân hàng Nhật Bản hay một bệnh viện Đức về nguyên tắc cũng nằm cùng phía hạn chế với người dùng tại quốc gia đối thủ. Không có ngoại lệ chung nào được công bố cho NATO hay liên minh chia sẻ tình báo Ngũ Nhãn (Five Eyes) gồm Mỹ, Anh, Canada, Australia và New Zealand.
Khi AI được đưa sâu vào vận hành, nó không còn là phần mềm thay được trong vài giờ. Dữ liệu, quy trình nội bộ và đội ngũ đều dựng quanh nền tảng đó. Nếu AI dùng để tổng hợp tình báo, bảo trì khí tài hoặc hỗ trợ chỉ huy, phụ thuộc vào một nhà cung cấp nước ngoài tạo ra điểm thất bại duy nhất.
Mỹ từng đối mặt phản ứng tương tự trong ngành vệ tinh. Cuối thập niên 1990, vệ tinh thương mại bị đưa trở lại diện kiểm soát theo Quy định về buôn bán vũ khí quốc tế của Mỹ. Khi đó, chỉ cần sử dụng một số linh kiện thuộc phạm vi quản lí của Washington, cả vệ tinh và hợp đồng liên quan cũng có thể bị kéo vào quy trình cấp phép xuất khẩu phức tạp. Nắm bắt nỗi lo này, từ năm 2002, công nghệ hàng không vũ trụ Alcatel Space của Pháp bắt đầu quảng bá dòng vệ tinh “ITAR-free”, hướng tới những khách hàng muốn tránh thủ tục kéo dài và giảm nguy cơ thương vụ bị Mỹ can thiệp hoặc chặn lại.
Dữ liệu từng được các cơ quan Mỹ sử dụng cho thấy thị phần doanh nghiệp Mỹ trong sản xuất vệ tinh toàn cầu giảm từ 63% giai đoạn 1996 - 1998 xuống 41% giai đoạn 2002 - 2005. CSIS lưu ý mức giảm còn liên quan tới phá sản, cắt giảm đầu tư và biến động thị trường. Một số vệ tinh quảng bá là không có linh kiện Mỹ thực tế vẫn dùng hàng Mỹ. Dù vậy, nhãn ITAR-free vẫn bán được, vì khách hàng muốn giảm rủi ro một quyết định từ Washington làm đổ vỡ hợp đồng.
Chuyên gia Vigier cho rằng ngay cả khi mức độ độc lập của các vệ tinh ITAR-free bị phóng đại, nhận thức về rủi ro phụ thuộc vẫn có thể ảnh hưởng tới lựa chọn của khách hàng và hướng dòng hợp đồng sang nhà cung cấp ngoài Mỹ. Đến tháng 11/2014, các quy định chuyển vệ tinh thương mại khỏi ITAR và trở lại cơ chế quản lí xuất khẩu thông thường mới có hiệu lực, nhưng năng lực đã dựng ở nước ngoài thì ở lại nước ngoài.
Đồng minh không cắt đứt, họ mua bảo hiểm
Các đồng minh khó có đủ tiền, chip và nhân lực để tự phát triển những mô hình AI mạnh ngang các tập đoàn Mỹ. Lựa chọn thực tế hơn là tiếp tục sử dụng công nghệ Mỹ, nhưng giữ quyền kiểm soát những phần quan trọng như dữ liệu, phần mềm vận hành, tiêu chuẩn đánh giá và phương án chuyển sang mô hình mở hoặc nhà cung cấp khác khi cần.
Cách tiếp cận này đã bắt đầu xuất hiện trong hoạt động mua sắm công. Canada đưa lợi ích trong nước vào chương trình Buy Canadian, ưu tiên doanh nghiệp nội địa, quyền sở hữu trí tuệ và hoạt động nghiên cứu trong nước. Theo ông Vigier, một số hồ sơ mời thầu tại các nước đồng minh còn yêu cầu nhà cung cấp chứng minh hệ thống vẫn có thể hoạt động nếu quyền truy cập vào mô hình AI Mỹ bị gián đoạn.
Châu Âu cũng đang biến mục tiêu tự chủ AI thành những chính sách cụ thể. Ngày 3/6, Ủy ban châu Âu công bố Gói Chủ quyền Công nghệ, trong đó có Đạo luật Chip 2.0, Đạo luật Phát triển Đám mây và AI cùng Chiến lược Nguồn mở EU. Khối này đặt mục tiêu xây dựng ít nhất 19 nhà máy AI dựa trên mạng lưới siêu máy tính EuroHPC, đồng thời dành 20 tỉ euro cho sáng kiến InvestAI nhằm hỗ trợ tối đa năm siêu nhà máy AI.
Nỗi lo phụ thuộc vào công nghệ Mỹ cũng được đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh G7 ở Évian-les-Bains từ ngày 15 đến 17/6. Lãnh đạo bảy nền kinh tế lớn đã làm việc cùng các CEO của OpenAI, Anthropic và Google DeepMind. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cảnh báo rằng những biện pháp hạn chế đột ngột có thể làm giảm niềm tin của đồng minh và khách hàng đối với AI Mỹ.
Tuy nhiên, châu Âu không có ý định quay lưng với Washington. Ngày 25/6, Ủy ban châu Âu kí Tuyên bố Pax Silica thay mặt EU, cam kết phối hợp với Mỹ và các đối tác để bảo đảm chuỗi cung ứng chip và AI. Hai động thái tưởng như trái ngược thực chất phục vụ cùng một mục tiêu. Châu Âu muốn có mặt trong quá trình xây dựng luật chơi với Mỹ, nhưng đồng thời chuẩn bị phương án tự chủ nếu chính sách của Washington thay đổi.
Ông Vigier cho rằng cũng Mỹ nên công bố tiêu chí kiểm soát rõ ràng, tạo cơ chế miễn giấy phép cho các chính phủ và doanh nghiệp đã được thẩm định trong NATO hoặc liên minh tình báo Five Eyes, đồng thời tham vấn đồng minh trước khi hạn chế quyền tiếp cận các mô hình AI tiên tiến.


