Nếu được hỗ trợ, doanh nghiệp Việt có thể cạnh tranh với các tập đoàn lớn trên thế giới
Theo ông Nguyễn Đạt, Phó tổng giám đốc Viettel, nếu có chính sách hỗ trợ phù hợp, Việt Nam có thể hình thành những ngành công nghiệp công nghệ chiến lược, cạnh tranh được với các tập đoàn lớn trên thế giới.
Mới đây, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 30.6.2025 phê duyệt Danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược với 35 sản phẩm ưu tiên. Đây không chỉ đơn thuần là một danh mục, mà thực chất là những "bài toán lớn" dành cho cộng đồng khoa học công nghệ, doanh nghiệp và thị trường Việt Nam cùng tham gia giải quyết.
Bộ KH-CN cũng trình Chính phủ danh sách 6 công nghệ chiến lược lựa chọn ưu tiên triển khai sớm để phát triển kinh tế, gồm: Thiết bị mạng di động 5G chuẩn ORAN, mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt, robot di động tự hành, nền tảng blockchain truy xuất nguồn gốc, thiết bị bay không người lái (UAV) và AI camera xử lý tại biên.
Theo lộ trình được Bộ KH-CN công bố, năm 2025, Việt Nam sẽ làm chủ 3 sản phẩm công nghệ chiến lược; đến 2027, mục tiêu mở rộng lên ít nhất 20 sản phẩm và năm 2035 thêm 25 sản phẩm, tiến tới phát triển các ngành công nghệ chiến lược đóng góp 15 - 20% GDP.
Để đạt được mục tiêu này, Bộ KH-CN cho biết sẽ lấy doanh nghiệp làm trung tâm, bài toán làm động lực, nhân tài là chìa khóa, hệ sinh thái là sức mạnh.
Theo đó, doanh nghiệp sẽ đóng vai trò chủ lực trong phát triển sản phẩm, còn viện, trường cung cấp nền tảng nghiên cứu, Nhà nước tạo hành lang pháp lý và hỗ trợ hạ tầng. Một điểm nhấn quan trọng là chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài toàn cầu thông qua việc giải quyết những bài toán lớn có sức lan tỏa.
Tại diễn đàn “Tương lai khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, ông Nguyễn Đạt, Phó tổng giám đốc Viettel cho rằng trong kỷ nguyên kinh tế số, quốc gia nào nắm bắt và làm chủ công nghệ sẽ vươn lên mạnh mẽ, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Theo ông Nguyễn Đạt, Viettel đã đi trước một bước khi kiên trì đặt mục tiêu cao, lựa chọn cách làm đột phá, tự thiết kế - tự tích hợp - tự làm chủ công nghệ, thay vì phụ thuộc vào chuyển giao. Từ nghiên cứu công nghiệp quốc phòng, Viettel đã phát triển nhiều sản phẩm công nghệ cao như hạ tầng viễn thông 4G/5G, các nền tảng số phục vụ chuyển đổi số quốc gia, thiết bị hàng không vũ trụ, đến nay đã bước đầu xuất khẩu sang Ấn Độ, UAE, Philippines.
Viettel cũng đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu công nghệ chiến lược, quy tụ hơn 3.000 nhân sự trực tiếp tham gia nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, đồng thời triển khai chương trình thu hút chuyên gia quốc tế.
Từ thực tiễn, Viettel kiến nghị Nhà nước cần mở rộng phạm vi chi của quỹ đầu tư công nghệ chiến lược, hỗ trợ cả đầu ra sản phẩm; xây dựng các khu công nghiệp chuyên biệt cho những ngành như bán dẫn, hàng không; ban hành bộ tiêu chí nội địa hóa mới coi trọng năng lực nghiên cứu - thiết kế thay vì chỉ tính theo tỷ trọng linh kiện; thành lập một viện nghiên cứu công nghệ chiến lược tầm cỡ khu vực gắn kết viện, trường và doanh nghiệp.
Ông Đạt cho hay cùng với quyết tâm của doanh nghiệp, nếu có chính sách hỗ trợ phù hợp, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành những ngành công nghiệp công nghệ chiến lược, vươn lên cạnh tranh với các tập đoàn lớn trên thế giới.
GS-TS Lê Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng không một chủ thể nào có thể tự mình gánh vác toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo, do đó cần hình thành mô hình hợp tác chặt chẽ, đa chiều và linh hoạt.
Dẫn kinh nghiệm quốc tế, ông Tuấn phân tích mô hình Hàn Quốc, nơi chính phủ giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư cho các chương trình an ninh quốc gia, xây dựng khu công nghệ và hỗ trợ các tập đoàn lớn như Samsung, LG hợp tác với đại học và viện nghiên cứu để phát triển sản phẩm mới.
Các trường đại học ở Hàn Quốc như Pohang, KAIST hay SKKU đều được các tập đoàn đầu tư hàng chục đến hàng trăm triệu USD mỗi năm để xây dựng trung tâm nghiên cứu, cấp học bổng và hợp tác phát triển công nghệ. Sự kết hợp giữa nguồn lực nhà nước và doanh nghiệp đã đưa Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới về công nghệ cao, với tỷ lệ chi R&D/GDP luôn ở nhóm hàng đầu.

Ông Tuấn cũng nhắc tới mô hình Canada, nơi chính phủ đóng vai trò điều phối, tập trung vào chương trình thực tập và đào tạo nhân lực thông qua hợp tác đại học - doanh nghiệp. Cách làm này giúp sinh viên nâng cao kỹ năng thực tiễn, đồng thời gắn kết nghiên cứu với nhu cầu thị trường.
Theo GS-TS Lê Anh Tuấn, Việt Nam phù hợp với mô hình Hàn Quốc: Nhà nước kiến tạo chính sách, đầu tư hạ tầng và đặt hàng công nghệ; viện - trường tạo ra tri thức mới, đào tạo nhân lực chất lượng cao và phát triển công nghệ; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường và thương mại hóa sản phẩm.
Ông Tuấn nhấn mạnh nghiên cứu khoa học chỉ thực sự có giá trị khi được thương mại hóa và ứng dụng vào đời sống, vì vậy liên kết ba nhà trở thành chìa khóa quan trọng để phát triển công nghệ chiến lược trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.