Kinh tế

Ngành nước sạch cần 9 tỉ USD hiện đại hóa, lợi nhuận có đủ bù đắp?

Thế Lâm 12/08/2026 08:05

Ngành cấp nước, xử lý nước tại Việt Nam đang bước vào chu kỳ phát triển nhờ động lực từ tỉ lệ đô thị hóa tăng nhanh cùng sự mở rộng của các khu công nghiệp. Sự tăng trưởng lợi nhuận của ngành không chỉ đến từ việc tăng giá bán.

Nhu cầu tiêu thụ nước dần tăng cao

Nghiên cứu mới đây từ Công ty CP chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, theo số liệu từ Cục Thống kê, năm 2024, tổng sản lượng nước thương phẩm toàn quốc đạt 3,6 tỉ m³, tương đương mức tiêu thụ bình quân 36 m³/người/năm.

Trong giai đoạn 2020-2024, tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) của hai chỉ tiêu này lần lượt đạt 4,9%/năm và 3,9%/năm. Đà tăng trưởng của nhu cầu tiêu thụ nước trong kỳ được thúc đẩy bởi một số động lực chính. Thứ nhất là hoạt động công nghiệp mở rộng, từ đó nhu cầu sử dụng nước phục vụ sản xuất gia tăng song hành cùng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), với tốc độ tăng trưởng kép 5,4%/năm.

Động lực thứ hai đến từ việc đô thị hóa. Mức tiêu thụ nước tại các đô thị lớn như TP.HCM thường cao gấp đôi mức bình quân cả nước. Tính đến năm 2025, tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam đạt mức 44,5%. Đến năm 2030, mục tiêu này dự kiến được nâng lên 50%. VDSC dự phóng nhu cầu tiêu thụ nước sạch sẽ duy trì tăng trưởng trong dài hạn.

Nhà máy nước Thủ Đức thuộc Sawaco-1
Nhà máy nước Thủ Đức thuộc Sawaco. Ảnh: Sawaco.

Động lực thứ ba đến từ mức độ phổ cập hóa việc sử dụng nước sạch. Năm 2025, 94% dân số thành thị và 54% dân số nông thôn Việt Nam được tiếp cận và sử dụng nước sạch. Theo quy hoạch của Chính phủ, ngành nước sạch nhắm đến nâng tỉ lệ tiếp cận nước sạch lên mức 95-100% với người dân đô thị và 65% với người dân khu vực nông thôn. Mục tiêu này sẽ thúc đẩy nhu cầu sử dụng nước sạch đã qua xử lý trên toàn quốc, đặc biệt là tại khu vực nông thôn.

ngành nước sạch sản xuất cấp thoát nước-1

Cần nguồn vốn đầu tư lên tới 9 tỉ USD

Triển vọng ngành nước sạch đang được thúc đẩy bởi nhu cầu ổn định ngành cấp nước, xử lý nước tại Việt Nam. Ngành đang bước vào chu kỳ phát triển nhờ động lực từ tỉ lệ đô thị hóa tăng nhanh cùng sự mở rộng của các khu công nghiệp.

Theo đánh giá của VDSC, bức tranh thị trường đang cho thấy phân hóa mạnh mẽ với làn sóng mở rộng qua hình thức mua bán và sáp nhập (M&A) của các tập đoàn tư nhân như Tổng công ty Nước - Môi trường Bình Dương (BWE), Công ty Cơ điện lạnh (REE). Trong khi đó, các công ty cấp nước đô thị như Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco), tập trung hiện đại hóa mạng lưới phân phối nước.

Để hiện thực hóa mục tiêu phổ cập nước sạch đến năm 2030, Hiệp hội Cấp thoát nước Việt Nam ước tính cần nguồn vốn lên tới 9 tỉ USD để hiện đại hóa, mở rộng hạ tầng cung cấp, xử lý nước sạch. Nhu cầu vốn lớn này có thể mở ra không gian đầu tư lớn cho khối tư nhân trong lĩnh vực hạ tầng nước.

Giá thành nước sạch và mức lợi nhuận

Hiện tại, giá thành sản xuất nước sạch (đồng/m3) được xác định dựa trên các yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vật tư, chi phí quản lý, chi phí tài chính,… Đồng thời, giá thành sản xuất còn được điều chỉnh tùy theo tỉ lệ hao hụt trong quá trình sản xuất và vận chuyển nước sạch.

ngành nước sạch sản xuất cấp thoát nước-3

Về lợi nhuận định mức (đồng/m³), mức lợi nhuận này chênh lệch từ 360 đồng/m³ tới 1.500 đồng/m³. Hệ số tính giá tối đa với giá bán lẻ nước sạch bình quân thay đổi tùy theo đối tượng khách hàng sử dụng. VDSC nhận định, khung pháp lý hiện hành tạo cơ sở để chính quyền địa phương và các doanh nghiệp cấp nước chủ động điều chỉnh giá bán, qua đó bù đắp áp lực chi phí sản xuất gia tăng (do lạm phát, biến động đầu vào) hoặc để phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu khách hàng.

ngành nước sạch sản xuất cấp thoát nước-2

Điển hình tại Hà Nội, Quyết định số 3541/QĐ-UBND năm 2023 đã phê duyệt lộ trình tăng giá bán l ẻ nước sạch bình quân từ 9% đến 27% trong giai đoạn 2023-2024. Xu hướng này cũng được ghi nhận xuyên suốt trên thực tế tại các doanh nghiệp lớn trong ngành. Cụ thể, trong giai đoạn 2020-2025, giá nước bình quân của BWE và Sawaco duy trì mức tăng trưởng đều đặn, lần lượt đạt 6%/năm và 3%/năm. Theo kế hoạch của Ủy ban Nhân dân TP.HCM, trong giai đoạn 2026-2028, giá nước bán lẻ tại khu vực TP.HCM sẽ tăng bình quân 5%/năm, lên mức 14.176 đồng/m³ trong năm 2028, nhằm đảm bảo khả năng hoạt động của Sawaco.

“Chúng tôi cho rằng giá nước tại các địa bàn khác trên cả nước sẽ có tốc độ tăng trưởng giá bán tương tự”, VDSC đưa ra nhận định.

Ngành nước sạch được đánh giá là một ngành có tính phòng thủ cao nhờ vào nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, miễn nhiễm với suy thoái kinh tế và cơ chế biểu giá lũy tiến mang lại dòng tiền ổn định. Ngoài ra, VDSC cho rằng, tăng trưởng lợi nhuận của ngành không chỉ đến từ việc tăng giá bán mà còn đến từ việc ứng dụng công nghệ nhằm giảm tỉ lệ thất thoát nước. Trên thực tế, tỉ lệ thất thoát nước đã giảm dần.

Cho dù thế, tổng lợi nhuận gộp của ngành cấp nước cũng khó có thể đáp ứng cho việc huy động nguồn vốn đầu tư để hiện đại hóa và mở rộng hạ tầng cấp nước theo lộ trình. Đứng đầu ngành về lợi nhuận hiện nay là Sawaco, lợi nhuận sau thuế năm 2025 hơn 1.378 tỉ đồng, tăng 2% so với năm 2024. Lợi nhuận của Sawaco còn có sự đóng góp quan trọng từ việc tối ưu hóa mạng lưới và giảm tỉ lệ thất thoát nước xuống mức thấp 12,51%. Xếp sau là BWE, lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt xấp xỉ 1.028 tỉ đồng, tăng bứt phá 55,6% so với năm 2024.

Nhiều doanh nghiệp còn lại trong ngành có nguồn lợi nhuận ổn định nhưng không quá cao. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều ngành cung cấp dịch vụ dân sinh thiết yếu, ngành nước sạch hoàn toàn có thể áp dụng mô hình “vay vốn đầu tư trước – khấu hao và thu tiền qua giá nước sau” trong vòng 15-20 năm sau đó, hoàn toàn đảm bảo khả năng bù đắp chi phí và đem lại lợi nhuận bền vững cho các doanh nghiệp.

Nổi bật
      Mới nhất
      Ngành nước sạch cần 9 tỉ USD hiện đại hóa, lợi nhuận có đủ bù đắp?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO