Cà phê Một thế giới

Nguyên Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin: ‘Mọi việc tôi làm đều xuất phát từ trái tim’

Lưu Quang Định - Lê Minh Đức 06/10/2025 07:46

Ông hẹn chúng tôi đúng vào buổi chiều HN đón bão Bualoi với trận mưa như trút nước. Đến ngang bến xe Mỹ Đình, cách lối rẽ vào nhà ông 3,4km, chúng tôi đã phải bỏ xe, lội bộ bì bõm nước ngập đến gần thắt lưng.Ông vẫn chờ chúng tôi trong căn phòng bình yên, được bài trí giản dị. Ông là Nguyễn Đình Bin – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài giới thiệu.

nguyen-dinh-bin-sua_01.jpg
Ông Nguyễn Đình Bin đang trao đổi cùng phóng viên Tạp chí Một Thế Giới.
nguyen-dinh-bin_03.jpg

Suốt 3 tiếng trò chuyện với Cà phê Một Thế Giới, ông Nguyễn Đình Bin không uống một ngụm nước, giọng nói sang sảng, rành mạch kể rõ từng cột mốc, những kỷ niệm khó quên trong sự nghiệp ngoại giao của mình. Lần đầu gặp ông, ít ai nghĩ nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao – người luôn đau đáu về vấn đề hoà hợp dân tộc, dốc hết tâm huyết đề xuất, kiến nghị, góp phần chấp bút cho ra đời Nghị quyết 36-NQ/TW về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài năm 2004 – năm nay đã 81 tuổi, mỗi ngày phải uống 3 viên thuốc điều trị tim mạch: “Cách đây 4-5 năm, tôi nhập viện, cấp cứu suốt. Nhưng với chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng hợp lý, chịu khó rèn luyện cơ thể, đến nay, tôi cảm thấy khoẻ khoắn, cơ thể sảng khoái, đầu óc minh mẫn”, ông Bin hào hứng mở đầu câu chuyện.

- Nói thì nhanh như vậy nhưng chắc chắn ông đã phải trải qua một thời gian dài để phục hồi sức khoẻ sau những lần phải nhập viện cấp cứu…

- Ông Nguyễn Đình Bin: Có lẽ chính truyền thống của một gia đình cách mạng đã giúp tôi vượt qua nhiều thử thách cuộc đời, kể cả khi tôi còn là một cậu học sinh, sinh viên; cho tới khi trải qua các cương vị Bí thư Đảng uỷ, Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao.

Về sức khoẻ, tháng 3/2005 khi tôi đang làm Đại sứ Việt Nam tại Pháp, bác sĩ đã phát hiện động mạch vành trái cuả tôi bị tắc hoàn toàn, không thể đặt stent. Suốt 20 năm qua, mỗi ngày tôi phải uống 3 viên thuốc tim mạch, 1 viên chống đông máu, 1 viên kiểm soát nhịp tim, 1 viên kiểm soát lượng mỡ máu cholesterol. Hệ tuần hoàn của tôi bị xơ vữa nhiều, hai chân bị suy tĩnh mạch, tiền đình nặng. Khoảng 4-5 năm trước, có lúc tôi đang ngồi ăn cơm bỗng nhiên choáng, ngã lăn ra, nôn, xe cấp cứu phải tới đưa vào Bệnh viện Hữu Nghị, truyền thuốc cho máu lên não.

Bây giờ, bạn thấy tôi khoẻ đúng không? Nhưng thực tế, tôi bị điếc lâu rồi, phải dùng máy trợ thính. Nhận thức sức khoẻ kém, tôi nghe lời khuyên của bác sĩ, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, kiêng chất bột, mỡ, dùng các loại rau quả bổ sung vitamin và một ít chất đạm, chủ yếu là cá và lườn gà, uống sữa không đường và tuyệt đối không ăn vặt. Sáng, sau khi dậy uống 1 cốc nước chanh, mật ong, pha 1 thìa dầu oliu. Từ hai năm nay, chỉ ăn sáng và trưa. Tối chỉ một chút hoa quả và rau để uống thuốc.

nguyen-dinh-bin-sua_03.jpg

Hằng ngày, bất kể thời tiết ra sao tôi vẫn duy trì chế độ luyện tập bình thường. Sáng đi bộ, kết hợp một số động tác, ít nhất 30 phút. Cuối chiều, xen kẽ giữa bơi khoảng 30 phút và tập yoga khoảng 40 phút. Động tác yoga của tôi, nhiều người cũng phải nể đấy!

Một thói quen nữa đã ăn vào máu của tôi là việc học tập, thiếu kiến thức là tôi không thể chịu được. Tôi nhất định phải xem bản tin VTV1 lúc 12 giờ và lúc 19 giờ, để cập nhật tình hình trong nước và thế giới. Còn thời gian thì lên mạng đọc sách báo nước ngoài, chơi facebook, giao lưu cùng mọi người.

Tháng 5/2025 vừa qua, tôi tham gia tour du lịch hành hương về đất Phật Ấn Độ. Tôi là người cao tuổi nhất trong đoàn, nhưng luôn đi đầu, tham gia đầy đủ các chương trình của đoàn, thức khuya dậy sớm mà không hề cảm thấy đuối sức.

nguyen-dinh-bin_07.jpg

- Trên trang facebook cá nhân của ông có một bức ảnh gây xúc động mạnh, người con trai Nguyễn Đình Bin râu tóc trắng như cước đẩy xe lăn cho mẹ hơn 100 tuổi đi dạo. Được biết, hằng ngày ông vẫn tự tay chăm sóc, tắm rửa, cho mẹ ăn…

- Ông Nguyễn Đình Bin: Mẹ tôi là một người phụ nữ Việt Nam điển hình. Cha tôi tham gia cách mạng từ năm 1936, là Đội trưởng Đội phản gián Ty Công an Hải Dương. Ông hi sinh đầu năm 1951 khi tôi mới 7 tuổi. Lúc đó, gia đình tôi ở quê nghèo lắm. Mẹ tôi chưa đầy 30 tuổi đã một lòng thờ chồng, phụng dưỡng bố mẹ chồng, tần tảo, làm việc cật lực để vượt qua mọi thiếu thốn, gian khổ, nuôi dạy 3 anh em tôi khôn lớn, trưởng thành.

Khi tôi còn công tác, mẹ tôi ở với chú em của tôi ở quê. Tôi có vài lần mời được cụ lên ở với vợ chồng tôi nhưng cũng chỉ được ít ngày là cụ lại đòi về quê vì nhớ bà con thôn xóm. Mãi tới đầu năm 2008 khi về hưu, tôi mới được đón mẹ về ở cùng.

Với tôi, việc được tự tay tắm rửa, cắt tóc, đi chợ, nấu ăn… cho mẹ là diễm phúc của mình, tôi muốn tự tay làm hết. Sức khoẻ của mẹ tôi tốt, cụ có thể sinh hoạt, đi lại bình thường, thậm chí còn tiếp nhà báo, trả lời phỏng vấn rất minh mẫn. Nhưng, từ vài năm nay, mỗi khi đi ra ngoài hay về quê, tôi muốn đặt cụ lên xe lăn đẩy chứ không để mẹ tự đi. Sau khi sức khoẻ của tôi không tốt, tôi mới thuê người giúp việc hỗ trợ.

Tháng 6 vừa qua, không may cụ bị ngã khi đi vệ sinh, gãy xương và phải nằm bất động hơn 1 tháng. Trong thời gian dưỡng thương, ý chí của cụ mạnh lắm, là một tấm gương đã và đang giáo dục tôi rất nhiều. Cụ đã cố gắng ngồi dậy, tự đứng lên và lại ngã. Vậy nên, ban đầu tôi đã dùng giường chuyên dụng, nay đưa cụ về phòng riêng, đã phải chế thêm dụng cụ phụ trợ bên giường để ngăn, chứ nếu để cụ ngã thêm lần nữa thì rất nguy hiểm.

nguyen-dinh-bin2_02.jpg

- Trong lễ đại thọ 100 tuổi, mẹ của ông đã đọc to, thuộc lòng bức thư ông gửi cho bà từ Cuba 56 năm trước. Ngày ấy, ông có hay viết thư cho mẹ không và ông thường kể gì trong thư?

- Ông Nguyễn Đình Bin: Cuối năm 1963 tôi đi Cuba và đó là cái tết đầu tiên tôi xa nhà. Lúc đó ông nội tôi vẫn còn. Tôi viết thư về chúc tết bằng văn vần dạng lục bát, đại ý hỏi thăm, chúc sức khoẻ ông bà, mẹ, các chú, thím, cô …; trong đó có một lời hứa cam kết hoàn thành tốt nhiệm vụ, trở về cho xứng với truyền thống gia đình. Và đến giờ, khi kiểm nghiệm lại, tôi thấy mình đã làm được và mọi người trong gia đình không phải hổ thẹn vì tôi.

Đầu Xuân 2020, trong dịp mừng lễ đại thọ của mẹ tôi, tôi đã thử hỏi mẹ còn nhớ bức thư con viết không? Đã 56 năm trôi qua, thế mà cụ đọc lại gần như đầy đủ. Bây giờ, con cháu tới thăm, cụ vẫn nhớ tên từng người.

nguyen-dinh-bin2_04.jpg
nguyen-dinh-bin2_06.jpg

- Trở lại quá khứ, ông đã được kết nạp Đảng năm 18 tuổi. Tấm ảnh ghi lại thời khắc đáng tự hào đó không phải ai cũng có…

- Ông Nguyễn Đình Bin: Như tôi đã chia sẻ ở trên, tôi sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Quê tôi ở xã Thượng Vũ, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, nằm ngay cạnh đường 5 có tuyến xe lửa quốc lộ Hà Nội – Hải Phòng, một con đường chiến lược. Vậy nên, trong kháng chiến chống Pháp, du kích quê tôi phát triển rất mạnh, tổ chức đánh mìn ngăn Pháp chở vũ khí, lương thực vận chuyển từ Hải Phòng về Hà Nội.

Năm 10 tuổi, tôi tham gia Đội thiếu niên kháng chiến và đã đương đầu với hiểm nguy khi tham gia cuộc biểu tình do chi bộ xã tổ chức đầu năm 1954. May mắn quả lựu đạn lính nguỵ ném tới là lựu đạn cay, chứ nếu không thì tôi chẳng có cơ hội ngồi đây nói chuyện, và cũng chẳng có một Nguyễn Đình Bin mà bạn biết. Có thể nói, lòng yêu nước, căm thù giặc được hun đúc trong tôi một cách tự nhiên từ truyền thống gia đình, quê hương.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, giữa năm 1955 khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tôi mới bắt đầu đi học chính quy. Kết quả học tập của tôi ở các cấp 1, 2, 3 đều là “Number One” (số 1). Cả 3 lần thi tốt nghiệp đều đậu thủ khoa. Ngày 9.1.1960 khi đang học lớp 7 tôi được kết nạp Đoàn. Khi tôi rời trường cấp 2, kết thúc những dòng lưu niệm khen ngợi tôi, bằng chữ rất đẹp, thầy giáo dạy chính trị đã viết : “Thầy mong rằng: ‘Ngày mai, Em sẽ vinh dự được công nhận là một đảng viên cộng sản’ và ngày ấy em đừng quên báo tin cho thầy biết”. Chính lời khích lệ đó của thầy đã thắp lên trong tôi ngọn lửa, ý chí phấn đấu vào Đảng. Trước đó, dù xuất thân trong gia đình cách mạng và sớm được giác ngộ, dấn thân, tôi vẫn nghĩ đảng viên là điều gì đó rất cao siêu, mình mới là học trò làm sao mà vươn tới được.

nguyen-dinh-bin2_08.jpg

Từ cấp 2, với kết quả học tập xuất sắc toàn diện, là con liệt sĩ, gia cảnh khó khăn, tôi đã được nhà nước cấp 2/3 học bổng. Lên cấp 3 thì được toàn phần 9,6 đồng mỗi tháng (tương đương 30kg gạo, giá 3,2 hào/kg), giúp mẹ đỡ vất vả phần nào.

Và may mắn là thầy dạy chính trị cấp 2 lại tiếp tục dạy tôi ở cấp 3. Thầy đã hiểu và tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện, giới thiệu cho tôi vào Đảng, cùng với BCH Đoàn trường cấp 3. Vừa học xong lớp 9, tôi được kết nạp Đảng. Ngày ấy, trường cấp 3 Hồng Quang của tôi đã phát động phong trào thi đua: “Học tập Nguyễn Đình Bin trở thành con ngoan trò giỏi”. Đó là một thách thức, một áp lực rất lớn đối với tôi. Tôi tự nhủ phải học tập, sống cho xứng đáng với sự tin yêu của các thầy, cô giáo và các bạn.

Về tấm ảnh kết nạp Đảng của tôi, thời đó làm gì có chuyện chụp ảnh khi kết nạp Đảng, máy móc đâu ra. Tôi có tấm ảnh ấy vì lý do phục vụ cho Cuộc triển lãm chào mừng Quốc khánh và Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1962 của tỉnh Hải Dương. Tôi là một điển hình của ngành giáo dục nên được bố trí chụp tấm ảnh đó đưa vào triển lãm. Trong tấm ảnh ấy, thầy giới thiệu tôi vào Đảng không có mặt do đi công tác, vì ảnh chụp sau, không phải chụp đúng lúc tôi được kết nạp Đảng.

Một điểm tôi cũng rất tự hào là đã được công nhận là Đảng viên chính thức trước thời hạn 8 ngày, một điều hi hữu. Tôi kết nạp 23.8.1962 vậy mà ngày 15.8.1963 đã được công nhận chính thức.

nguyen-dinh-bin-sua2_02.jpg
nguyen-dinh-bin2_12.jpg

- Là một một đảng viên trẻ đầy triển vọng như vậy, vì sao lúc đó ông lại quyết định chọn nghề ngoại giao?

-Ông Nguyễn Đình Bin: Tôi sinh ra ở nông thôn, chân lấm tay bùn, mò cua bắt ốc… và có được học ngoại giao đâu nên làm sao dám chọn; mà là ngoại giao chọn tôi.

Kết thúc cấp 3, tôi được sang Cuba học tập tại Đại học La Habana. Chương trình học tập rất nặng, khóa học đó không chỉ có sinh viên Việt Nam mà còn có sinh viên của 6 nước nữa nhưng kết quả học tập của tôi vẫn luôn là số 1.

Khi tôi là sinh viên năm nhất, tôi đã được ông đại sứ yêu cầu vừa học vừa làm, dịch tài liệu và phiên dịch cho Đại sứ quán Việt Nam tại Cuba, nên đã có nhiều cơ hội dịch cho Chủ tịch Fidel Castro. Tôi học hết năm thứ 3 thì ngoại giao đã trở thành một mặt trận phát triển rất mạnh. Ông Đại sứ kiên quyết không cho tôi được vừa học vừa làm nữa, dù tôi đã cố gắng thuyết phục được học hết năm cuối. Khi nhận quyết định công tác tại Đại sứ quán, tôi được Bộ Ngoại giao đặc cách công nhận tốt nghiệp đại học, được vào biên chế ngay, hưởng 100% lương tốt nghiệp đại học, không phải qua thời gian tập sự.

Là đảng viên, tôi luôn tuân thủ yêu cầu cách mạng. Khi đã vào Bộ Ngoại giao, tôi cũng chỉ xác định phấn đấu học hỏi để là một cán bộ tốt; chứ chẳng bao giờ dám nghĩ tới những chuyện như đi làm Đại sứ, Vụ trưởng, Thứ trưởng…

Một trong những kỷ niệm sâu sắc, khi tôi vừa nhận nhiệm vụ Vụ trưởng Vụ Lãnh sự, là đã được giao trách nhiệm Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định đầu tiên về bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Đó là Hiệp định về quản lý tạm thời vùng biên giới. Và đặc biệt, tiếp đó là Trưởng đoàn cấp chuyên viên đàm phán về biên giới, lãnh thổ.

nguyen-dinh-bin2_14.jpg

Nhận nhiệm vụ, tôi lo lắm nhưng không thể từ chối được. Vậy là phải lao vào học tất cả mọi thứ, ở lại cơ quan tới khuya để nhờ những anh em rất giỏi nghiệp vụ chia sẻ với mình; qua đó nắm được luật pháp quốc tế về biên giới, lãnh thổ, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982, lịch sử đàm phán biên giới, lãnh thổ giữa hai nước suốt từ đầu tới thời điểm đó, cũng như các vụ kiện về tranh chấp lãnh thổ điển hình trên thế giới.

Quá trình đàm phán, tôi phải “chiến đấu” quyết liệt, đồng thời khôn khéo, nắm chắc chuyên môn, để bác bỏ các luận điệu phi lý từ phía Trung Quốc. Có thể coi cuộc đàm phán biên giới lãnh thổ với Trung Quốc là “trận Điện Biên Phủ” của tôi. Tôi đã học hỏi các cộng sự, vận dụng những điều đã học được và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Hay để cho ra đời nghị quyết 36-NQ/TW về công tác với người Việt Nam ở nước ngoài, suốt 4 năm, từ lúc tôi đề xuất, khi nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm Ủy ban, đầu năm 2000, tôi đã kiên trì theo đuổi, tìm đủ mọi cách, nắm mọi cơ hội để thuyết phục, thúc đẩy.

Tôi tâm niệm, chúng ta đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995, đã hợp tác với Mỹ tìm kiếm hài cốt binh lính Mỹ mất tích, thậm chí, vì việc đó, đã có người, cả đại tá, hy sinh do tai nạn. Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ được ký năm 2000; đã bình thường hóa và thiết lập quan hệ bạn bè và đối tác tin cậy với tất cả các nước đã từng đô hộ và xâm lược ta. Vậy, đối với những đồng bào ở phía bên kia chiến tuyến, xét cho cùng cũng là nạn nhân của sự xâm lược ngoại bang, tại sao chúng ta không hòa giải được? Nghị quyết 36-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 26.3.2004 có thể coi là một “mốc son trong đời công tác của tôi”.

nguyen-dinh-bin3_02.jpg

- Theo ông, những phẩm chất cần có của một nhà ngoại giao giỏi là gì?

- Ông Nguyễn Đình Bin: Tôi nghĩ ngoại giao là nghề phải có kiến thức rất toàn diện, phải hiểu mình, hiểu người. Trong nghệ thuật đàm phán, tôi luôn theo tinh thần như Bác Hồ dạy là “Tâm công”, phải tìm cách “tỉa” vào trái tim của đối phương. Và quan trọng nhất là phải đặt lợi ích, mục tiêu của quốc gia lên trên hết!

Một người làm ngoại giao phải có đức, có phẩm chất, nhân cách tốt. Về lập trường quan điểm, phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và vận dụng sáng tạo. Trong công tác tham mưu, hoạch định chính sách thì phải dám nghĩ, dám đề xuất những ý kiến, kiến nghị thay đổi những thứ không còn phù hợp, kiên trì thuyết phục, bảo vệ quan điểm của mình.

Với tôi, học tập là việc làm suốt đời. Tôi luôn thực sự cầu thị, không bao giờ thoả mãn, càng học càng thấy mình còn… dốt, càng làm càng thấy mình còn kém và phải trau dồi thêm nhiều.

Về tư cách đạo đức “đói cho sạch rách cho thơm”, “giấy rách phải giữ lấy lề”. Tôi vẫn nhớ và thấm nhuần lời ông nội tôi dạy khi tôi còn bé: “Nhân bất học bất tri lý” (con người không học tập thì không hiểu được đạo lý, lẽ phải, lẽ làm người).

nguyen-dinh-bin3_04.jpg

- Ông có suy nghĩ gì về đường lối ngoại giao “cây tre” của Việt Nam?

- Ông Nguyễn Đình Bin: Về nguyên tắc, ngoại giao luôn cần sự mềm mỏng, biết nhu biết cương, biết mình biết người. Vậy nên lấy hình ảnh cây tre để nói về đường lối ngoại giao của Việt Nam, về thực chất cũng đúng. Cây tre rất cứng cỏi, bền vững, nhưng mềm mại, dẻo dai, biết cách thích nghi trong gió bão, thể hiện bản lĩnh, khí phách, tâm hồn và nghệ thuật sống của người Việt Nam. Vấn đề là phải hiểu ngoại giao “cây tre” trong từng thời điểm cụ thể như thế nào và vận dụng trong thực tiễn ra sao (?!).

Xung quanh những vấn đề chúng ta đang triển khai trên mặt trận ngoại giao, có nhiều điều tôi đồng ý, nhưng cũng có những điều mà nếu được phát biểu ý kiến, tôi sẽ góp ý nên khác đi sẽ tốt hơn.

Ngoại giao dù thế nào đi nữa cũng phải dựa trên tình hình trong nước và phục vụ yêu cầu đối nội là xây dựng và bảo vệ đất nước. Chỉ có thể triển khai được ngoại giao tốt nhất trên cơ sở thống nhất, đoàn kết nội bộ. Nói ngoại giao là sự nối dài của đối nội nghĩa là như vậy.

Ông Nguyễn Đình Bin chia sẻ về quyết định hiến xác cho khoa học.
nguyen-dinh-bin3_06.jpg

- Cuộc đời ngoại giao cho ông đi rất nhiều vùng đất. Và vùng đất nào để lại cho ông nhiều ấn tượng nhất?

-Ông Nguyễn Đình Bin: Vùng đất mang lại nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất đối với tôi là Cuba – nơi tôi học tiếng Tây Ban Nha, bắt đầu làm lính ngoại giao và Nicaragua – nơi tôi trở thành Đại sứ trẻ nhất của Việt Nam khi mới 38 tuổi.

Tôi mãi biết ơn, năm 1983, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã tin tưởng, tiến cử và bảo vệ cho tôi đi làm Đại sứ một địa bàn chiến đấu là Nicaragua. Cho đến thời điểm ấy, đi làm Tham tán, Đại sứ đều là những cán bộ kỳ cựu, đã kinh qua kháng chiến từ thời chống Pháp, thường là Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch, lãnh đạo chủ chốt của tỉnh và các ngành chuyển về Bộ Ngoại giao.

Đi làm Tham tán phải được Ban Bí thư ra quyết đinh bổ nhiệm, còn làm Đại sứ thì cũng như hiện nay, phải qua nhiều cấp, đến Ban Bí thư, Thủ tướng Chính Phủ, rồi Chủ tịch nước bổ nhiệm. Tôi là Đại sứ đầu tiên chỉ xuất thân từ một sinh viên, chưa kinh qua kháng chiến, lại quá trẻ, nên thực sự là một quyết định đột phá.

Tôi hiểu rất rõ sứ mệnh đã được trao. Nếu tôi làm tốt, thì cánh cửa vừa mở ra cho thế hệ trẻ của ngành phấn đấu, được trọng dụng, sẽ được duy trì, mở rộng hơn. Còn nếu tôi thất bại, thì chắc là cánh cửa ấy sẽ đóng sập lại. Với quyết tâm của mình, 3,5 năm làm Đại sứ tại Nicaragua tôi đã hoàn thành tốt trọng trách, không chỉ trong quan hệ với bạn Nicaragua, mà với cả phong trào cách mạng Trung Mỹ, đặc biệt là El Salvador, và xây dựng Đại sứ quán.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ở bất kỳ vị trí công tác nào, quan điểm của tôi luôn là: Phải tự chủ, độc lập suy nghĩ. Phải nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối, các chủ trương, chính sách, nguyên tắc; nhằm các mục tiêu, yêu cầu cụ thể đặt ra, phải chủ động, với tinh thần tiến công, dám nghĩ, dám nêu lên suy nghĩ của mình, dám đề xuất những cái mới, thuyết phục và bảo vệ chính kiến của mình.

nguyen-dinh-bin3_08.jpg

- Trong cuộc đời hoạt động ngoại giao của mình, ông đã được gặp rất nhiều người, trong đó có những bậc vĩ nhân. Ông có thể kể một số kỷ niệm của ông cùng những vĩ nhân đó, đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Cuba Fidel Castro?

- Ông Nguyễn Đình Bin: Tôi may mắn được gặp và phục vụ một số vĩ nhân. Đó là những áp lực phải hoàn thành nhiệm vụ, nhưng cũng là những cơ hội đặc biệt để học hỏi, rèn luyện, trưởng thành.

Như tôi đã kể, mới đang học năm thứ nhất Đại học La Habana, Đại sứ quán nước ta đã yêu cầu tôi tham gia phục vụ công tác biên dịch, phiên dịch, trong đó có dịch cho các đoàn Việt Nam thăm Cuba mà hầu hết đều được Chủ tịch Fidel Castro tiếp. Vì vậy, tôi đã quen biết và dịch cho Fidel rất nhiều lần. Ông là một người vô cùng nhân hậu, rất quan tâm, gần gũi, thân tình với tôi.

Đến tháng 9.1973, khi Chủ tịch Fidel Castro sang thăm Việt Nam lần đầu, lãnh đạo Bộ Ngoại giao lại chỉ định tôi đi dịch cho Fidel trong suốt chuyến đi. Bạn biết đấy, tài hùng biện của Fidel nổi tiếng thế giới. Diễn văn của ông không bao giờ viết trước, dịch sẵn, mà ông đều ứng khẩu. Tôi đã hiểu Fidel nên rất bình tĩnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khi Fidel nói hùng hồn tôi dịch hùng hồn, khi Fidel dừng lại, xúc động nói về Bác Hồ, tôi cũng dịch với tình cảm như vậy. Bài dịch của tôi được bố trí ghi âm. Ngay sau khi Fidel kết thúc diễn văn, bản ghi âm được đem về cho nhóm cán bộ giỏi tiếng Tây Ban Nha của Bộ Ngoại giao, Thông tấn xã, Ban đối ngoại Đảng đang trực chờ. Tất cả đều khen bài dịch của tôi, không cần chỉnh sửa gì nhiều, chỉ việc viết ra và thêm dấu chấm, phẩy. Báo Nhân Dân khi đó chỉ có 4 trang, hôm sau đã đăng toàn văn, rất dài; và Thông tấn xã cũng phát đi ngay.

nguyen-dinh-bin3_10.jpg

Sau chuyến thăm Việt Nam năm 1973 của Chủ tịch Fidel, đến năm 1974, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Cuba và tôi lại được cử đi dịch cho “Bác Tô” (bí danh của Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tôi vừa làm phiên dịch, làm thư ký, trợ lý cho Thủ tướng trong suốt thời gian bác thăm Cuba và được bác rất quý. Khi ấy tôi mới có con gái đầu lòng chưa đầy 2 tuổi. Về nước, bác Đồng đã cho gọi vợ con tôi tới ăn cơm riêng với bác. Đó là vinh hạnh, là điều tôi không bao giờ mong chờ, là niềm động viên rất lớn trong sự nghiệp của tôi. Có lẽ, sau này, người ta hay nói tôi là con nuôi của cụ Phạm Văn Đồng và Fidel Castro là vì vậy.

Đến cuối năm 1975, Cuba tổ chức Đại hội Đảng Cộng sản Cuba lần thứ nhất. Đảng ta đã cử Đoàn do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội NDVN dẫn đầu sang dự. Tiếp đó, với danh nghĩa Trưởng đoàn quân sự cấp cao Việt Nam, Đại tướng đã thăm chính thức Cuba. Đại sứ Hà Văn Lâu lại cử tôi đi dịch cho Đại tướng. Tôi đã có một kỷ niệm không thể nào quên trong lần đầu tiếp xúc riêng với Đại tướng, đó là được tự tay cắt tóc cho Đại tướng.

nguyen-dinh-bin4_02.jpg

- Trong sự nghiệp của mình, nhà ngoại giao nào mà ông chịu ảnh hưởng nhiều nhất: Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch…?

- Ông Nguyễn Đình Bin: Tôi rất kính trọng Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh. Tôi rất nhớ lần đầu tiên dịch cho Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh. Khi ông tới, khách vẫn chưa có mặt, ông đã hỏi “Bin đấy à?” và bắt tay tôi. Chỉ một câu hỏi nhẹ nhàng thế thôi, nhưng tôi xúc động và cảm thấy được khích lệ! Mình chỉ là anh lính trơn, vậy mà lại được Bộ trưởng, là Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng quan tâm, biết tên mình. Qua thời gian, tôi càng hiểu cụ Trinh là người rất tâm lý và tình cảm. Cụ hay đưa phu nhân tới Bộ Ngoại giao cùng anh em xem phim rất thân tình.

Còn với Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, tôi luôn coi ông như bậc thầy, một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một người anh lớn. Khi tôi còn làm Quyền Vụ trưởng Vụ Cuba Mỹ Latinh, có một cán bộ tốt nghiệp ngành nông nghiệp ở Cuba, là kỹ sư bên Bộ Nông nghiệp nhưng muốn chuyển về Vụ tôi công tác. Tôi đã đích thân kiểm tra tiếng Tây Ban Nha, thấy quá yếu, và báo cáo là “không thể nhận được”. Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ lúc đó là anh Vũ Xuân Áng bảo tôi: “Đây là người nhà anh Thạch (Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch – PV). Thôi, châm chước đi”.

Tôi suy nghĩ, cân nhắc rất kỹ, vẫn thấy không thể bồi dưỡng được. Tôi đề nghị anh Áng báo cáo với Bộ trưởng là thực hiện theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ trưởng và lãnh đạo Bộ về tuyển dụng cán bộ mới thì ý kiến của tôi là “không thể nhận được”. Nếu Bộ vẫn quyết định nhận thì tôi chấp hành. Ít lâu sau, anh Áng gặp tôi bảo: “Trường hợp đó thôi Bin ạ, không cần nhận nữa”.

nguyen-dinh-bin4_04.jpg

Tôi đã chuẩn bị tinh thần “ăn đòn” của cụ Thạch! Nhưng không, tôi chẳng những không bị “đòn” mà còn được Bộ trưởng ưu ái tiến cử và bảo vệ, cho tôi đi làm đại sứ ở Nicaragua như đã kể. Tiếp đó, ông đã cho tôi về Vụ Tổng hợp, nay là Chính sách đối ngoại - cái lò đào tạo cán bộ cốt cán của ngành ngọai giao; rồi đề cử vào Đảng ủy tại Đại hội Đảng bộ Ngoại giao cuối năm 1987 mà tôi đã trúng cử với số phiếu cao nhất; rồi cử làm Bí thư Đảng ủy chuyên trách trẻ nhất; tiếp đó làm Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ cũng trẻ nhất trong lịch sử ngành ngoại giao. Đó là tài năng, nhân cách rất đặc biệt của một đồng chí lãnh đạo cấp cao.

Cùng với Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, tôi cũng rất kính trọng Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, Thứ trưởng thứ nhất Trần Quang Cơ, Thứ trưởng Lê Mai, Thứ trưởng thường trực Vũ Khoan, sau là Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng. Đó là những nhà lãnh đạo giỏi, đức độ, tài năng, có tư duy mới, sắc sảo, có bản lĩnh, nhân cách lớn và tôi đã học tập được rất nhiều.

nguyen-dinh-bin-sua4_02.jpg

- Cả một đời luôn đau đáu suy nghĩ, quyết tâm cống hiến vì cái chung, đóng góp sức mình cho dân, cho nước; mới đây, ông đã quyết định hiến xác cho khoa học. Quyết định này đã tới với ông như nào, ông có phải suy nghĩ, cân nhắc lâu không?

- Ông Nguyễn Đình Bin: Đây là mong muốn của tôi từ lâu rồi. Thực sự là tôi muốn hiến tạng để cứu người. Đã có không ít trường hợp hiến tạng, kể cả trường hợp một người mất đi đã cứu được mấy người. Thật tuyệt vời, vô cùng nhân đạo!

Nhưng biết rõ thân xác mình đã quá lão hoá, lại nhiều bệnh tật, chẳng có bộ phận nào có thể phục vụ được việc cứu người, nên tôi đã tham khảo ý kiến một danh y mà tôi rất quý trọng là PGS-TS-BS Nguyễn Lân Hiếu. Tôi hỏi là tôi có thể hiến xác cho nghiên cứu y học và đào tạo bác sĩ trẻ không? Được PGS Hiếu khích lệ, tôi bảo con mình đưa đi làm thủ tục luôn, gần đây mới nhận được cái thẻ.

Nhân tiện, tôi cũng đã chia sẻ quyết định hiến xác của tôi trên trang cá nhân và không ngờ được lan toả, chia sẻ nhiều thế, rất nhiều ý kiến đồng tình ủng hộ.

Ngoài việc hiến xác, tôi còn một mong muốn nữa. Tìm hiểu trên mạng thì hiện nay trên thế giới đã có trên 10 nước (châu Âu có 6 nước) luật pháp quy định cho phép người mắc bệnh nan y có thể tự nguyện ra đi theo nguyện vọng. Tôi rất mong Việt Nam ta sẽ ban lành luật đó, bởi đem lại nhiều điều tốt đẹp. Trước hết, đó là tôn trọng quyền chính đáng của người bệnh. Cùng với đó, là dành các dịch vụ y tế phục vụ người bệnh nan y, để phục vụ cho nhu cầu thực sự của cộng đồng. Tôi biết có người sống thực vật 2-3 năm khổ lắm, người lở loét, biết mình vô dụng, tồn tại như vậy còn có ý nghĩa gì đâu. Thế mà người thân vẫn phải thuốc men, phục vụ vô cùng vất vả. Tất cả những dịch vụ y tế đó nên dành để phục vụ cho các bệnh nhân còn có khả năng cứu chữa được, sẽ có ý nghĩa hơn.

Xin cảm ơn ông vì cuộc trò chuyện này.

nguyen-dinh-bin4_08.jpg
nguyen-dinh-bin4_10.jpg
Nổi bật
      Mới nhất
      Nguyên Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin: ‘Mọi việc tôi làm đều xuất phát từ trái tim’
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO