Công nghệ quân sự

Nhét máy bay vào tàu ngầm để tấn công Mỹ: Vũ khí kì lạ nhất Thế chiến II của Nhật Bản

Hoàng Vũ 17/08/2026 07:18

Nhật Bản từng chế tạo tàu ngầm I-400 có thể giấu ba máy bay tấn công trong khoang kín nước, với tham vọng bí mật vượt đại dương rồi tập kích kênh đào Panama. Kế hoạch chưa kịp thực hiện thì Thế chiến II kết thúc.

Một tàu ngầm khổng lồ vượt đại dương, nổi lên giữa đêm, mở khoang kín trên boong rồi phóng máy bay đi đánh mục tiêu cách xa hàng trăm kilomet. Nghe như vũ khí trong phim viễn tưởng, nhưng Nhật Bản đã chế tạo thứ đó thật. I-400 và I-401 mỗi chiếc mang được ba máy bay tấn công, phục vụ một kế hoạch chưa bao giờ kịp triển khai.

Những chiếc máy bay đầu tiên nằm trần trên boong

Ý tưởng đưa máy bay đi cùng tàu ngầm xuất hiện từ rất sớm. Tháng 1/1915, tàu ngầm U-12 của Đức mang một thủy phi cơ Friedrichshafen FF.29 trên boong. Trong thử nghiệm, con tàu hạ phần mũi xuống để chiếc FF.29 nổi khỏi boong rồi tự cất cánh. Năm 1916, Anh cũng đưa hai thủy phi cơ Sopwith Schneider ra Bắc Hải bằng tàu ngầm HMS E22, nhằm giúp máy bay tiếp cận khu vực hoạt động của khí cầu Zeppelin Đức.

inchhighguy.wordpress.com-wp-content-uploads-2026-01-_aaa123_u12.jpg
Tàu ngầm U-12 của Hải quân Đức với một thủy phi cơ trinh sát Friedrichshafen FF.29 trên boong. Ảnh: Quân đội Đức

Hai thử nghiệm không phục vụ cùng một nhiệm vụ, nhưng cùng cho thấy một khả năng hấp dẫn. Tàu ngầm có thể bí mật đưa máy bay đến gần khu vực tác chiến trước khi đối phương phát hiện. Lợi ích đặc biệt rõ với nhiệm vụ trinh sát. Từ tháp chỉ huy chỉ nhô lên vài mét trên mặt biển, tầm quan sát của thủy thủ đoàn bị chặn bởi đường chân trời, trong khi một chiếc máy bay lên cao hàng trăm mét nhìn được khu vực rộng hơn nhiều.

Vấn đề nằm ở cách mang máy bay. Ở những thiết kế ban đầu, máy bay đặt ngoài boong nên phải hứng trực tiếp sóng gió, đồng thời khiến tàu ngầm không thể lặn ngay khi gặp nguy hiểm. Đổi lại khả năng trinh sát từ trên không, con tàu phải hi sinh đúng thứ làm nên giá trị của nó.

Khoang chứa kín nước và những cái kết bi thảm

Tới thập niên 1920, giải pháp đưa máy bay vào một khoang chứa kín nước được thử nghiệm nghiêm túc tại Mỹ, Anh và Pháp.

Hải quân Mỹ dùng tàu ngầm S-1, lắp một khoang hình trụ trên boong để chứa chiếc Martin MS-1 đã tháo rời. Tài liệu của Naval History and Heritage Command cho thấy các thử nghiệm bắt đầu từ năm 1923. Thủy thủ phải lấy máy bay ra, lắp ráp trên boong, cho cất cánh rồi thu hồi và tháo rời trước khi đưa trở lại khoang.

nationalinterest.org-wp-content-uploads-2026-08-_hms-m2-takeoff-081326-wikimedia-1024x388.jpg
HMS M2, một trong những tàu ngầm mang máy bay đầu tiên của Anh, trong ảnh chụp năm 1933. Máy bay được tháo rời và cất trong khoang kín nước, sau đó nhanh chóng lắp ráp lại để cất cánh khi cần. Ảnh: Wikimedia Commons

Anh đi xa hơn với HMS M2. Khẩu pháo 305 mm nguyên bản bị tháo bỏ, nhường chỗ cho khoang chứa một chiếc Parnall Peto hai chỗ ngồi cùng máy phóng trên boong. Máy bay cất cánh trinh sát rồi đáp xuống mặt biển cạnh tàu mẹ để cần cẩu kéo trở lại.

Hệ thống hoạt động được, nhưng chương trình kết thúc trong thảm họa. Ngày 26/1/1932, M2 chìm ngoài khơi Dorset cùng toàn bộ 60 người trên tàu. Xác tàu sau đó được phát hiện với cửa khoang chứa đang mở. Giả thuyết phổ biến cho rằng cửa mở khi tàu chưa nổi hoàn toàn khiến nước tràn vào, dù nguyên nhân chính xác chưa bao giờ được chứng minh dứt khoát.

Pháp chọn thiết kế còn táo bạo hơn với Surcouf, tàu ngầm lớn nhất thế giới khi đó. Nó mang hai khẩu pháo 203mm, nhiều ống phóng ngư lôi và một thủy phi cơ trinh sát Besson MB.411 trong khoang chứa. Chiếc máy bay có nhiệm vụ tìm và chỉ điểm mục tiêu cho hai khẩu pháo hạng nặng, khiến Surcouf giống một sự pha trộn giữa tàu ngầm và tuần dương hạm. Con tàu biến mất tại vùng biển Caribe tháng 2/1942 cùng khoảng 130 người. Một vụ va chạm với tàu hàng Mỹ thường được xem là khả năng lớn nhất, nhưng nguyên nhân cuối cùng vẫn còn tranh luận.

Cả ba nước đều chứng minh ý tưởng khả thi về mặt kĩ thuật. Phần lớn hải quân sau đó vẫn từ bỏ vì cái giá phải trả quá lớn. Nhật Bản chọn hướng ngược lại.

Nhật Bản đưa ý tưởng vào thực chiến

Trước khi phát triển lớp I-400, Nhật Bản đã chế tạo khoảng 40 tàu ngầm thuộc nhiều lớp khác nhau có khoang chứa thủy phi cơ, một vài chiếc mang được hai máy bay. Ban đầu chúng chủ yếu làm nhiệm vụ trinh sát.

nationalinterest.org-wp-content-uploads-2026-08-_i-400-japanese-sub-081326-wikimedia.jpg
Tranh minh họa tàu ngầm I-400 do một họa sĩ của Hải quân Mỹ thực hiện sau khi chiến tranh kết thúc. Ảnh: Hải quân Mỹ

Nổi tiếng nhất là Yokosuka E14Y, loại thủy phi cơ mà phe Đồng minh đặt mật danh Glen. Cánh máy bay tháo rời được để cất trong khoang, sau đó lắp lại trên boong và phóng bằng máy phóng khi tàu nổi lên. Trong chiến tranh, E14Y thực hiện nhiều chuyến trinh sát tầm xa trên Thái Bình Dương, từng xuất hiện trên bầu trời Australia và New Zealand.

Nhưng nhiệm vụ đưa chiếc máy bay này vào lịch sử lại diễn ra ngay trên đất Mỹ. Sáng 9/9/1942, tàu ngầm I-25 nổi lên ngoài khơi bang Oregon và phóng một chiếc E14Y do sĩ quan Nobuo Fujita điều khiển. Máy bay mang hai quả bom cháy, bay vào đất liền rồi thả xuống khu rừng gần thị trấn Brookings.

máy bay NB
Máy bay Yokosuka E14Y. Ảnh: Wikipedia

Nhật Bản hi vọng gây ra cháy rừng lớn, phá hoại tài nguyên và buộc Mỹ phân tán lực lượng để ứng phó. Thời tiết ẩm khiến đám cháy nhanh chóng bị dập tắt. Fujita bay thêm một phi vụ ngày 29/9/1942 nhưng cũng không gây thiệt hại đáng kể.

Xét về quân sự, hai cuộc không kích gần như vô nghĩa. Nhưng về mặt lịch sử, đây là trường hợp duy nhất trong Thế chiến II máy bay đối phương thả bom xuống phần lãnh thổ lục địa gồm 48 bang liền kề của Mỹ. Nhiều năm sau, câu chuyện có một kết thúc hoàn toàn khác. Fujita trở lại Brookings, trao thanh kiếm gia truyền cho thị trấn như biểu tượng hòa giải và được phong công dân danh dự.

I-400 và kế hoạch đánh kênh đào Panama

Sau trận Trân Châu Cảng, Đô đốc Isoroku Yamamoto thúc đẩy ý tưởng chế tạo loại tàu ngầm tầm hoạt động cực xa, đủ sức vượt đại dương, tung máy bay đánh các mục tiêu chiến lược rồi trở về mà không cần tiếp tế dọc đường. Theo tài liệu Bảo tàng Hàng không và Vũ trụ Quốc gia Smithsonian (Mỹ) tổng hợp, đầu năm 1942 Hải quân Nhật yêu cầu nghiên cứu tàu ngầm có tầm hoạt động khoảng 40.000 hải lí, mang được máy bay sử dụng ngư lôi hoặc bom nặng chừng 800 kg.

upload.wikimedia.org-wikipedia-commons-thumb-2-21-i400_2.jpg-_330px-i400_2.jpg
Tàu ngầm I-401 với khoang chứa máy bay dài và máy phóng bố trí ở phía trước. Ảnh: WIkipedia

Kết quả là lớp Sen-Toku I-400, dài khoảng 122 m với tầm hoạt động 37.500 hải lí. Đây là những tàu ngầm lớn nhất từng được đưa vào biên chế, giữ kỉ lục cho tới khi các tàu ngầm hạt nhân cỡ lớn xuất hiện trong thập niên 1960.

Điểm khác thường nhất nằm ở khoang chứa hình trụ chạy dọc thân tàu, đủ chỗ cho ba chiếc Aichi M6A1 Seiran. Khác với E14Y chủ yếu trinh sát, Seiran là máy bay tấn công hai chỗ ngồi thiết kế riêng cho tàu ngầm, mang được một quả bom khoảng 800 kg hoặc ngư lôi. Để nằm vừa khoang rộng chỉ 3,5 m, cánh có thể xoay rồi gập sát thân, phần đuôi cũng thu gọn, còn phao được tháo ra cất riêng.

m6a1.jpg
Máy bay Aichi M6A của Nhật Bản. Ảnh: Wikipedia

Mọi chi tiết đều xoay quanh việc rút ngắn thời gian nổi. Thủy thủ đoàn có thể hâm nóng dầu bôi trơn và chất làm mát động cơ ngay khi máy bay còn nằm trong khoang. Phóng cả ba chiếc mất 30 phút, giảm còn một nửa nếu bỏ phao, đổi lại tàu mẹ không thu hồi được máy bay.

Đến năm 1944, Hải quân Nhật xác định kênh đào Panama là mục tiêu phù hợp nhất cho loại vũ khí này. Tuyến đường nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương giúp tàu chiến và tàu vận tải Mỹ tránh phải đi vòng qua Nam Mỹ. Nếu các âu tàu bị phá hủy, Tokyo hi vọng việc điều chuyển lực lượng Mỹ giữa hai đại dương sẽ gián đoạn đáng kể.

Kế hoạch huy động I-400, I-401 cùng hai tàu I-13 và I-14, triển khai tổng cộng 10 chiếc Seiran đánh cụm âu tàu Gatun. Máy bay sẽ cất cánh không phao ngoài khơi Ecuador, tấn công từ phía Caribe rồi quay lại hạ bụng xuống biển cạnh tàu mẹ để phi công được vớt. Tháng 4/1945, kế hoạch đổi thành đòn cảm tử, nhưng các tổ bay không hề được thông báo.

Screenshot 2026-08-17 005417
Tàu sân bay USS Ranger (CV-4) đi qua kênh đào Panama vào tháng 10/1945, không lâu sau khi Thế chiến II kết thúc. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Nhật Bản từng cân nhắc tiến hành một cuộc không kích nhằm vào kênh đào Panama bằng máy bay được triển khai từ tàu ngầm, nhưng kế hoạch này chưa bao giờ được thực hiện. Ảnh: Hải quân Mỹ

Chương trình khi đó đã teo lại từ lâu. Yamamoto thiệt mạng tháng 4/1943, còn tình trạng thiếu nguồn lực buộc Nhật cắt đơn hàng từ 18 chiếc xuống 9 rồi còn 5. Cuối cùng chỉ 3 tàu hoàn thành, trong đó I-402 về đích với vai trò tàu chở nhiên liệu và chưa từng tham chiến.

Giữa năm 1945, quân Mỹ tiến sát quần đảo Nhật Bản khiến Panama không còn là ưu tiên. Ngày 25/6, mục tiêu chuyển sang Ulithi, căn cứ hải quân lớn của Mỹ tại quần đảo Caroline. I-13 và I-14 được giao đưa máy bay trinh sát Nakajima C6N Saiun tới Truk để theo dõi, nhưng I-13 bị đánh chìm trên đường. I-400 và I-401 mang sáu chiếc Seiran cho đòn đánh chính.

i400crew.jpg
Các sĩ quan của tàu ngầm I-400 đứng trước khoang chứa máy bay, trong bức ảnh do Hải quân Mỹ chụp sau khi con tàu đầu hàng trên biển, một tuần sau khi chiến tranh kết thúc. Ảnh: Wikipedia

Cuộc tấn công chưa bao giờ diễn ra. Ngày 15/8/1945, Nhật Bản đầu hàng khi hai tàu vẫn đang trên đường làm nhiệm vụ. Một tuần sau, chúng nhận lệnh hủy thiết bị nhạy cảm. Toàn bộ ngư lôi được bắn hết, còn những chiếc Seiran bị phóng thẳng khỏi máy phóng mà không mở cánh, rơi xuống đáy biển.

Vì sao tàu sân bay dưới nước biến mất

I-400 chứng minh tàu ngầm hoàn toàn có thể mang máy bay tấn công vượt đại dương. Nhưng chính thiết kế ấy cho thấy vì sao mô hình này khó trở thành xu hướng.

Để phóng máy bay, tàu phải nổi lên, mở khoang chứa, đưa máy bay ra, mở cánh, lắp vũ khí rồi đặt lên máy phóng. Muốn thu hồi còn phức tạp hơn, phải chờ máy bay đáp xuống mặt biển và dùng cần cẩu kéo lên. Suốt khoảng thời gian đó, con tàu phơi mình trên mặt nước. Bản thân hệ thống cũng tạo ra gánh nặng lớn, khi khoang chứa, máy phóng, nhiên liệu hàng không, phụ tùng và nhân lực bảo dưỡng chiếm rất nhiều không gian, khiến tàu phải to hơn và tốn kém hơn chỉ để vận hành vài chiếc máy bay.

i400gun.jpg
Hải quân Mỹ kiểm tra khẩu pháo trên tàu ngầm I-400. Ảnh: Wikipedia

Sau chiến tranh, Hải quân Mỹ thu giữ các tàu ngầm này và đưa một số chiếc tới Hawaii nghiên cứu. Năm 1946, chúng bị đánh chìm, một phần nhằm ngăn Liên Xô tiếp cận công nghệ. Nhiều thập kỉ sau, xác I-400 và I-401 lần lượt được tìm thấy dưới đáy biển gần đảo Oahu. Chiếc Aichi M6A1 Seiran duy nhất còn tồn tại hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Smithsonian.

Nổi bật
      Mới nhất
      Nhét máy bay vào tàu ngầm để tấn công Mỹ: Vũ khí kì lạ nhất Thế chiến II của Nhật Bản
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO