Nông dân và doanh nghiệp ĐBSCL đối mặt với làn sóng phòng vệ thương mại
Làn sóng điều tra phòng vệ thương mại gia tăng buộc nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp (Đồng bằng sông Cửu Long) ĐBSCL xây dựng chuỗi sản xuất minh bạch hơn.

Minh bạch vùng nguyên liệu là nền tảng PVTM
Từ lâu nông nghiệp vẫn là một trong những trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Nhiều mặt hàng nông sản đã đạt kim ngạch xuất khẩu hàng tỉ USD và hiện diện tại nhiều thị trường khó tính trên thế giới. Tuy nhiên, xu hướng bảo hộ thương mại toàn cầu đang gia tăng, kéo theo hàng loạt biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ thương mại cùng các yêu cầu ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, môi trường, lao động và tính minh bạch của chuỗi cung ứng.
Tại Hội thảo “Doanh nghiệp nông nghiệp trước làn sóng điều tra phòng vệ thương mại” diễn ra tại Cần Thơ cuối tháng 6, ông Huỳnh Ngọc Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ, cho rằng năng lực phòng vệ thương mại của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và tính minh bạch của vùng nguyên liệu. Một vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, có mã số vùng trồng, nhật ký sản xuất, dữ liệu số và hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ sẽ giúp doanh nghiệp có đủ bằng chứng để chứng minh tính hợp pháp của sản phẩm khi tham gia thị trường quốc tế.
Hiện TP. Cần Thơ đã cấp 657 mã số vùng trồng với diện tích hơn 11.000 ha, thu hút trên 9.400 hộ nông dân tham gia; đồng thời cấp 45 mã số cơ sở đóng gói cho 17 doanh nghiệp. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hình thành hệ thống dữ liệu minh bạch phục vụ xuất khẩu và nâng cao năng lực phòng vệ thương mại trong thời gian tới.

Chuyển đổi số từ doanh nghiệp
Một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm tại hội thảo là việc ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý chuỗi giá trị nông nghiệp. Theo các chuyên gia, đây đang trở thành công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng tự bảo vệ trước các vụ điều tra thương mại quốc tế.
Bà Nguyễn Ngọc Yến, Trưởng phòng xử lý PVTM nước ngoài thuộc Cục Phòng vệ thương mại, cho biết các cuộc điều tra hiện nay không chỉ xem xét sản phẩm cuối cùng mà còn yêu cầu doanh nghiệp chứng minh toàn bộ quá trình sản xuất, nguồn gốc nguyên liệu, chi phí đầu vào và các dữ liệu liên quan trong chuỗi cung ứng.
Điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chuẩn bị sẵn hệ thống dữ liệu đầy đủ, minh bạch và có khả năng truy xuất nhanh chóng. Việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc và các hệ thống quản lý thông minh sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn khi cơ quan điều tra nước ngoài yêu cầu cung cấp thông tin.
Tại Cần Thơ, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiều nền tảng số như VNPT Green, nhật ký điện tử, công nghệ IoT trong quản lý đồng ruộng, hệ thống cảnh báo dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc. Những nền tảng này đang góp phần tạo nên “hồ sơ số” cho từng vùng nguyên liệu và từng sản phẩm.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Phạm Hoàng Lâm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Lam Rice Group, cho rằng khó khăn lớn nhất hiện nay là nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ dữ liệu để phục vụ các cuộc điều tra phòng vệ thương mại. Trong khi đó, cơ quan điều tra nước ngoài thường yêu cầu cung cấp hồ sơ rất chi tiết về nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, chi phí và hoạt động xuất khẩu. Nếu thiếu dữ liệu hoặc dữ liệu không nhất quán, doanh nghiệp có nguy cơ bị áp thuế cao hoặc mất thị trường.
Theo các chuyên gia, doanh nghiệp ĐBSCL không thể tiếp tục chỉ đóng vai trò thu mua nguyên liệu mà cần đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu liên kết, đồng hành với nông dân và hợp tác xã. Khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm ngay từ đầu vào, doanh nghiệp sẽ giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng bảo vệ mình trước các rào cản thương mại.

Nông dân và hợp tác xã phải thay đổi tư duy sản xuất
Bên cạnh vai trò của doanh nghiệp, nông dân và hợp tác xã cũng được xem là mắt xích quyết định trong việc nâng cao năng lực phòng vệ thương mại cho nông sản ĐBSCL.
Theo ông Phạm Văn Lơ, xã viên HTX Nhãn Nhơn Nghĩa (xã Nhơn Ái, TP. Cần Thơ), ngành nông nghiệp và các cơ quan chuyên môn cần tăng cường tập huấn, phổ biến các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn an toàn và quy định của thị trường nhập khẩu cho người sản xuất lúa gạo, trái cây và thủy sản xuất khẩu.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng bản thân người nông dân cũng phải thay đổi tư duy sản xuất. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, tuân thủ quy trình canh tác, sử dụng vật tư đúng quy định, tham gia liên kết với hợp tác xã và thực hiện truy xuất nguồn gốc không còn là yêu cầu mang tính khuyến khích mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để hàng hóa có thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu lớn.
Đối với các hợp tác xã, cần chủ động cập nhật thông tin về mã số vùng trồng, vùng nuôi, tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường và phối hợp với doanh nghiệp trong quản lý chất lượng sản phẩm. Đây chính là cơ sở để xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch và bền vững.
Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục PVTM - Bộ Công thương cho rằng, trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng phức tạp, PVTM không còn bắt đầu từ lúc doanh nghiệp nhận được bảng câu hỏi điều tra mà bắt đầu ngay từ khi tổ chức sản xuất trên đồng ruộng. Một vùng nguyên liệu minh bạch sẽ tạo nên chuỗi cung ứng minh bạch; từ đó xây dựng niềm tin của thị trường và trở thành “lá chắn” hiệu quả nhất giúp nông sản Việt Nam vượt qua các rào cản thương mại, phát triển bền vững trên thị trường quốc tế.