Hỏi - Đáp

PGS.TS Nguyễn Thiện Tống: Không thể để phi công phát hiện UAV rồi mới xử lí

Hoàng Bắc (thực hiện) 12/08/2026 14:49

Tối 11/8, sự cố UAV khiến nhiều chuyến bay đến Tân Sơn Nhất phải bay chờ, chuyển hướng hoặc hạ cánh tại sân bay khác.

689870358_122106936980733189_700341348026146612_n.jpg
PGS.TS Nguyễn Thiện Tống khá bất ngờ trước sự việc này. UAV không phải là phương tiện mới xuất hiện, còn nguy cơ UAV xâm nhập khu vực sân bay cũng đã được cảnh báo từ lâu. Ảnh: Nhân vật cung cấp.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, PGS.TS Nguyễn Thiện Tống - nguyên Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Hàng không tại Trường Đại học Bách khoa TP.HCM cho rằng, sự cố UAV xâm nhập khu vực Tân Sơn Nhất, ảnh hưởng đến hoạt động cất, hạ cánh cho thấy các sân bay cần tăng cường năng lực phát hiện và ngăn chặn phương tiện bay không người lái.

Theo ông, sân bay phải chủ động phòng ngừa bằng công nghệ, trong khi người sử dụng UAV phải tuân thủ nghiêm các quy định về vùng trời.

Khi phi công trở thành “mắt thần” phát hiện UAV

-Thưa PGS.TS Nguyễn Thiện Tống, ông đánh giá thế nào về sự cố UAV xâm nhập khu vực Tân Sơn Nhất, khiến hoạt động cất, hạ cánh bị gián đoạn và hàng chục chuyến bay bị ảnh hưởng? Việc phi công phát hiện UAV thay vì hệ thống kỹ thuật của sân bay phát hiện từ sớm cho thấy điều gì về năng lực bảo đảm an toàn hiện nay?

- PGS.TS Nguyễn Thiện Tống: Tôi khá bất ngờ trước sự việc này. UAV không phải là phương tiện mới xuất hiện, còn nguy cơ UAV xâm nhập khu vực sân bay cũng đã được cảnh báo từ lâu. Về nguyên tắc, UAV là loại phương tiện có thể được phát hiện bằng các hệ thống kỹ thuật.

Hành khách ngồi chờ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Huyền Anh.
Hành khách ngồi chờ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Huyền Anh.

Điều đáng quan tâm không chỉ là một UAV xâm nhập vùng trời sân bay, mà là tại sao hệ thống bảo vệ sân bay không phát hiện và xử lí được từ sớm, để đến khi phi công phát hiện thì sự việc đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hàng không.

Một sân bay có mật độ khai thác rất lớn như Tân Sơn Nhất phải được tổ chức theo hướng chủ động phòng ngừa. Không thể chỉ trông chờ vào việc phi công nhìn thấy hoặc phát hiện UAV rồi mới xử lí.

Cần có hệ thống giám sát để phát hiện sớm, xác định vị trí, hướng di chuyển và mức độ nguy hiểm của UAV trước khi nó tiến vào khu vực có thể gây rủi ro cho máy bay. Khi phát hiện, cũng phải có phương án xử lí đủ nhanh để vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn UAV.

Mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là xử lí một chiếc UAV, mà là bảo vệ toàn bộ chuỗi an toàn của hoạt động hàng không.

Qua sự việc này, tôi cho rằng cần xem lại năng lực phát hiện và ứng phó với UAV tại các sân bay. Nếu một nguy cơ đã được nhận diện từ lâu nhưng vẫn có thể gây gián đoạn hoạt động hàng không ở quy mô lớn thì đó là vấn đề cần được rút kinh nghiệm nghiêm túc.

Sân bay cần hệ thống chống UAV nhiều lớp

- Về mặt công nghệ, sân bay cần xây dựng hệ thống phát hiện và ngăn chặn UAV như thế nào? Việt Nam có cần triển khai hệ thống chống UAV chủ động tại các sân bay, nhất là những nơi có mật độ khai thác lớn như Tân Sơn Nhất?

- PGS.TS Nguyễn Thiện Tống: Về mặt kỹ thuật có nhiều giải pháp. Trước hết phải phát hiện UAV càng sớm càng tốt, sau đó xác định vị trí, hướng bay, độ cao và khả năng tiếp cận khu vực hoạt động của máy bay.

Khai thác hàng không dân dụng tại sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM). Ảnh: ACV
Khai thác hàng không dân dụng tại sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM). Ảnh: ACV

Sau bước phát hiện là nhận diện và xác định phương thức điều khiển UAV. Nếu xác định được tần số hoặc tín hiệu điều khiển, về nguyên tắc có thể sử dụng các giải pháp kỹ thuật để can thiệp, làm gián đoạn kết nối hoặc vô hiệu hóa khả năng điều khiển phương tiện.

Trong những tình huống nguy hiểm, có thể cần thêm các phương án khác để ngăn chặn UAV, tùy thuộc vị trí, độ cao, hướng di chuyển và mức độ đe dọa đối với hoạt động hàng không.

Tôi cho rằng rất cần triển khai hệ thống chống UAV, nhất là tại những sân bay có mật độ khai thác lớn. UAV đã trở thành một phương tiện phổ biến, vì vậy nguy cơ UAV xâm nhập vùng trời sân bay không còn là tình huống có thể xử lí theo kiểu bị động.

Mỗi sân bay cần có năng lực phát hiện, nhận diện, cảnh báo và xử lí UAV một cách chủ động. Không thể chờ đến khi phi công nhìn thấy hoặc báo cáo thì hệ thống mới bắt đầu phản ứng.

Cần xây dựng một hệ thống phòng vệ nhiều lớp, chứ không phụ thuộc vào một phương thức duy nhất. Phát hiện, cảnh báo và xử lí phải được kết nối thành một quy trình thống nhất.

Những sự cố đã xảy ra tại các sân bay phải là cảnh báo để rà soát lại năng lực phòng vệ. Một sự cố ở sân bay này phải trở thành bài học cho sân bay khác, chứ không nên để mỗi nơi xảy ra một lần rồi mới rút kinh nghiệm.

- Từ đầu năm đến nay, nhiều sân bay như Nội Bài (TP. Hà Nội), Cát Bi (Hải Phòng), Đà Nẵng... cũng ghi nhận các sự cố liên quan đến UAV hoặc vật thể bay. Vì sao tình trạng này vẫn tái diễn và trách nhiệm của sân bay, cũng như người sử dụng UAV, cần được nhìn nhận như thế nào?

- PGS.TS Nguyễn Thiện Tống: Tôi nghĩ phải nhìn vấn đề từ cả phía sân bay và người sử dụng UAV.

Theo dự báo, những ngày cuối kỳ nghỉ Tết Bính Ngọ 2026, sản lượng hành khách tại Tân Sơn Nhất có thể tiếp tục duy trì ở mức xấp xỉ hoặc vượt mốc hiện tại-Ảnh: Nguyễn Tuyết
Lượng hành khách tại Tân Sơn Nhất rất lớn. Ảnh: Nguyễn Tuyết.

Về phía sân bay, khi đã có những sự cố xảy ra thì phải coi đây là một nguy cơ đã được nhận diện. Từ đó phải nâng cấp phương án giám sát và phòng ngừa, thay vì tiếp tục ứng phó theo từng sự cố.

Đặc biệt, với những sân bay có mật độ khai thác rất cao như Tân Sơn Nhất, sân bay phải tiên liệu được nguy cơ và có khả năng phản ứng trước khi UAV ảnh hưởng đến hoạt động cất, hạ cánh.

Ở chiều ngược lại, người sử dụng UAV cũng phải chịu trách nhiệm. Cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức vận hành UAV phải biết rõ quy định về vùng trời, khu vực được phép bay và khu vực cấm bay.

Không thể xem việc UAV đi vào vùng trời sân bay là một sơ suất đơn giản. Chỉ một phương tiện nhỏ cũng có thể làm gián đoạn hoạt động của hàng loạt máy bay.

Trách nhiệm của người sử dụng UAV rất lớn, bởi hậu quả không dừng ở chiếc UAV hay người điều khiển nó. Một UAV xâm nhập vùng trời sân bay có thể gây thiệt hại cho hãng hàng không, sân bay và hành khách.

- Sự cố tại Tân Sơn Nhất ảnh hưởng đến hàng chục chuyến bay, trong đó có chuyến phải chuyển hướng hoặc hạ cánh tại sân bay khác. Theo ông, thiệt hại của những sự cố như vậy cần được nhìn nhận ra sao, không chỉ về chi phí trực tiếp của hàng không mà cả tác động kinh tế - xã hội đối với hành khách?

- PGS.TS Nguyễn Thiện Tống: Thiệt hại chắc chắn không nhỏ, nhưng muốn lượng hóa chính xác phải có số liệu từ sân bay và các hãng hàng không.

Trước hết là các chi phí trực tiếp như nhiên liệu phát sinh, thời gian bay, việc máy bay phải bay vòng, chờ đợi hoặc chuyển hướng. Khi một chuyến bay thay đổi kế hoạch, cả hệ thống khai thác phía sau cũng bị ảnh hưởng.

Nhưng đáng chú ý hơn là chi phí xã hội. Một chuyến bay chậm hoặc phải chuyển hướng có thể khiến hàng trăm hành khách lỡ cuộc hẹn, công việc, cuộc họp, lịch học hoặc những kế hoạch đã được sắp xếp trước.

Nếu sự cố xảy ra tại sân bay có tần suất khai thác rất cao và kéo dài, tác động sẽ lan truyền theo dây chuyền. Vì vậy, không nên xem UAV xâm nhập sân bay chỉ là một sự cố nhỏ về phương tiện bay. Nó có thể trở thành một sự cố vận hành có tác động kinh tế - xã hội rất lớn.

Quản lí chặt để UAV phát triển đúng hướng

- Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy UAV và kinh tế tầm thấp, làm thế nào để vừa bảo đảm an toàn hàng không, vừa không tạo rào cản cho sự phát triển của lĩnh vực này? Sau sự cố Tân Sơn Nhất, theo ông, cần làm gì để quản lí UAV hiệu quả và phát triển lĩnh vực này bền vững?

- PGS.TS Nguyễn Thiện Tống: Theo tôi, không nên đặt hai mục tiêu này đối lập nhau.

Kinh tế tầm thấp đang nổi lên như một “biên giới mới” của phát triển kinh tế toàn cầu
Kinh tế tầm thấp đang nổi lên như một “biên giới mới” của phát triển kinh tế toàn cầu. Ảnh: TL.

An toàn hàng không phải được bảo đảm bằng hệ thống quản lí và công nghệ đủ tốt. Khi sân bay có khả năng phát hiện, nhận diện và xử lí UAV từ sớm, chúng ta sẽ giảm nguy cơ phải đình chỉ hoạt động hàng không trên diện rộng.

Còn phía người sử dụng UAV phải tuân thủ các quy định về vùng trời. Những khu vực nhạy cảm như sân bay phải được kiểm soát đặc biệt nghiêm ngặt. Không phải hạn chế UAV để bảo đảm an toàn hàng không, mà phải quản lí tốt UAV để cả hai cùng phát triển.

UAV là công nghệ có tiềm năng rất lớn. UAV có thể được ứng dụng trong nông nghiệp, logistics, nghiên cứu, giám sát, cứu hộ và nhiều lĩnh vực khác. Không thể vì một số trường hợp sử dụng sai mà đánh đồng toàn bộ lĩnh vực này với nguy cơ mất an toàn.

Tôi cho rằng việc đầu tư hệ thống chống UAV cần được thực hiện sớm và có trọng điểm, trước hết tại những sân bay có mật độ khai thác cao. Không nên chỉ mua một thiết bị rồi xem như đã giải quyết được vấn đề. Đây phải là một hệ thống hoàn chỉnh, kết nối giữa phát hiện, cảnh báo, nhận diện và phương án xử lí.

Đồng thời, cần có quy trình phối hợp rõ ràng giữa các lực lượng liên quan. Khi hệ thống phát hiện UAV, phải xác định ngay ai đánh giá nguy cơ, ai đưa ra cảnh báo và ai thực hiện biện pháp ngăn chặn.

Mục tiêu là rút ngắn tối đa thời gian từ lúc phát hiện UAV đến lúc xử lí nguy cơ. Với hàng không, thời gian đó có ý nghĩa rất lớn.

Sự cố lần này chắc chắn là một cảnh báo. Sân bay phải chịu trách nhiệm chủ động bảo vệ vùng trời và hoạt động khai thác của mình. Người sử dụng UAV phải chịu trách nhiệm tuân thủ pháp luật và không xâm nhập những khu vực bị hạn chế.

Đặc biệt, với một sân bay có lưu lượng rất lớn như Tân Sơn Nhất, chúng ta phải tiên liệu trước những nguy cơ có thể xảy ra, thay vì chờ nguy cơ xuất hiện rồi mới xử lí.

Nếu làm được điều đó, chúng ta vừa bảo vệ an toàn hàng không, vừa tạo môi trường để UAV và kinh tế tầm thấp phát triển đúng hướng.

Xin cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thiện Tống về cuộc trò chuyện này.

Nổi bật
      Mới nhất
      PGS.TS Nguyễn Thiện Tống: Không thể để phi công phát hiện UAV rồi mới xử lí
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO