Nhịp đập công nghệ

Phát triển kinh tế sinh học: Tránh vòng luẩn quẩn đầu tư trước, tìm thị trường sau!

Trang Trần - Hà Tuấn • 14/10/2026 16:16

Từ công nghệ trong phòng thí nghiệm đến một sản phẩm có thể bán được là chặng đường nhiều rủi ro, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Chính vì thế, cần thử nghiệm sản phẩm trên hệ thống sẵn có, kiểm chứng nhu cầu thị trường rồi mới quyết định đầu tư sản xuất quy mô lớn.

Trong lĩnh vực công nghệ sinh học gắn với nông sản và dược liệu, một công nghệ mới chưa đồng nghĩa với một sản phẩm có thể thương mại hóa. Công nghệ có thể đã được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, thậm chí phát triển lên quy mô thử nghiệm, nhưng vẫn còn khoảng cách đáng kể trước khi trở thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng các Hợp chất Thiên nhiên (Đại học Bách Khoa Hà Nội), điều quan trọng không phải là đưa công nghệ ra thị trường, mà phải phát triển được sản phẩm từ công nghệ đó. Sản phẩm phải được thị trường chấp nhận và mang lại hiệu quả kinh tế thì mới có thể xem là kết quả thương mại hóa thực chất.

Phát triển kinh tế sinh học: Tránh vòng luẩn quẩn đầu tư trước, tìm thị trường sau!
PGS.TS Nguyễn Minh Tân, Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng các Hợp chất Thiên nhiên (Đại học Bách Khoa Hà Nội)

Bà Tân cho biết nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã phát triển các giải pháp chế biến sâu rau quả, nông sản và dược liệu. Hướng nghiên cứu này không chỉ khai thác phần nguyên liệu chính mà còn tận dụng các bộ phận khác như vỏ, hạt và những phần thường ít được chú ý, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm từ cùng một nguồn nguyên liệu. Quá trình chế biến cũng hướng đến giảm phát thải CO₂, nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế và phù hợp hơn với điều kiện của doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.

Một số công nghệ sinh học đã được chuyển giao, triển khai tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo bà Tân, hành trình đưa sản phẩm ra thị trường vẫn đang ở giai đoạn đầu và cần sự tham gia của nhiều bên.

Nút thắt lớn nằm ở cách doanh nghiệp tiếp cận công nghệ và tổ chức sản xuất. Theo mô hình đầu tư quen thuộc, doanh nghiệp có nhu cầu chế biến một loại nông sản sẽ tìm hiểu công nghệ, mua máy móc, xây dựng nhà xưởng, tổ chức sản xuất rồi mới đưa sản phẩm ra thị trường kiểm chứng.

Vấn đề là đến khi sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp mới phát hiện sản phẩm chưa phù hợp với nhu cầu khách hàng, thiếu một số thuộc tính cần thiết hoặc chưa đáp ứng điều kiện để bán ở thị trường mục tiêu. Khi đó, phần lớn chi phí đầu tư máy móc, nhà xưởng và nhân lực đã phát sinh. Việc điều chỉnh công nghệ hay thay đổi sản phẩm đều trở nên tốn kém.

Với doanh nghiệp nhỏ, rủi ro này đặc biệt đáng kể vì nguồn lực tài chính và mạng lưới tiếp cận công nghệ, chuyên gia, thị trường còn hạn chế. Trong khi đó, đây lại là nhóm doanh nghiệp có nhu cầu ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất và tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Từ thực tế đó, bà Tân đề xuất một cách tiếp cận khác: đưa sản phẩm thử ra thị trường trước khi doanh nghiệp quyết định đầu tư lớn.

Làm sản phẩm công nghệ sinh học thử với chi phí nhỏ, kiểm chứng nhu cầu thật

Theo mô hình được bà Tân mô tả, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã bắt đầu bằng việc trao đổi với nhóm nghiên cứu về nhu cầu cụ thể: muốn chế biến nguyên liệu nào, cần tạo ra sản phẩm gì và đang gặp vướng mắc ở công đoạn nào.

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu tư vấn phương án phù hợp và sử dụng hệ thống thiết bị sẵn có để thử nghiệm, tạo ra một lượng sản phẩm ban đầu từ nguyên liệu của doanh nghiệp. Thay vì phải đầu tư nhà xưởng, mua máy móc hoặc thuê nhiều đơn vị tư vấn ngay từ đầu, doanh nghiệp chủ yếu chi trả các khoản chi phí trực tiếp phục vụ quá trình làm thử như nhân công, điện, nước và nguyên liệu theo thỏa thuận.

Điểm đáng chú ý là sản phẩm thử không chỉ phục vụ việc chứng minh công nghệ có thể hoạt động. Doanh nghiệp có thể sử dụng sản phẩm đó để giới thiệu với khách hàng, chào bán, kiểm tra chất lượng và thu thập phản hồi từ thị trường.

Chẳng hạn, một sản phẩm chế biến từ nông sản có thể cần điều chỉnh màu sắc, độ ổn định, quy cách đóng gói hoặc sản lượng cung ứng để phù hợp với khách hàng. Những thông tin này chỉ trở nên rõ ràng khi sản phẩm được đặt trong bối cảnh sử dụng và tiêu thụ thực tế. Kết quả thử nghiệm vì thế giúp doanh nghiệp xác định cần cải tiến điều gì trước khi chuyển sang giai đoạn sản xuất lớn hơn.

Sau bước kiểm chứng, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp mới tính toán các phương án triển khai. Tùy quy mô nhu cầu và khả năng tài chính, doanh nghiệp có thể đầu tư hệ thống riêng, thuê công nghệ, thuê đơn vị phát triển sản phẩm hoặc tổ chức sản xuất theo một hình thức phù hợp khác.

Theo bà Tân, mỗi quy mô sản xuất có thể cần một phương án khác nhau; không phải trường hợp nào cũng nên xây dựng nhà máy ngay từ đầu.

Cách tiếp cận này còn tạo ra một điểm dừng cần thiết trong quá trình đầu tư. Nếu sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu, chi phí sản xuất quá cao hoặc thị trường chưa sẵn sàng, các bên có thể dừng lại để điều chỉnh trước khi phát sinh những khoản đầu tư lớn hơn. Theo bà, phát hiện vấn đề càng sớm thì càng giảm được công sức và chi phí đã bỏ ra.

Dù vậy, sản phẩm thử bán được chưa có nghĩa là doanh nghiệp đã sẵn sàng sản xuất hàng loạt. Bà Tân nêu tình huống một khách hàng đặt một hoặc hai container sản phẩm, nhưng khi đơn hàng tăng lên 10 container, doanh nghiệp lại phải giải bài toán mới về thiết bị, nhân lực và khả năng vận hành hệ thống.

Vì vậy, hỗ trợ thương mại hóa không thể kết thúc ở việc chuyển giao một quy trình công nghệ. Giải pháp mà nhóm nghiên cứu hướng tới còn bao gồm máy móc, phần mềm, năng lực vận hành và phương án triển khai sản xuất. Khi doanh nghiệp có đơn hàng lớn hơn, nhóm nghiên cứu có thể hỗ trợ về nhân lực vận hành, kể cả theo hình thức trực tuyến trong những trường hợp phù hợp.

Đây là điểm khác biệt giữa việc chuyển giao một kết quả nghiên cứu và hỗ trợ doanh nghiệp hình thành năng lực sản xuất một sản phẩm có thể tiêu thụ trên thị trường.

Nhà khoa học phải hiểu thị trường, doanh nghiệp cần đối tác công nghệ

Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tân, một trở ngại khác của thương mại hóa công nghệ sinh học là khoảng cách về cách tiếp cận giữa nhà khoa học và doanh nghiệp. Nhà khoa học thường tập trung vào công nghệ và kết quả nghiên cứu, trong khi doanh nghiệp phải quan tâm đến sản phẩm, khách hàng, chi phí và lợi nhuận. Hai bên có thể cùng cần nhau nhưng vẫn khó tìm được tiếng nói chung nếu không hiểu nhu cầu và giới hạn của đối tác.

Bởi vậy, nhà khoa học cần chủ động học cách trao đổi với doanh nghiệp, diễn giải giá trị công nghệ thành những lợi ích cụ thể đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần cung cấp thông tin rõ ràng về nguyên liệu, nhu cầu sản phẩm, quy mô dự kiến và điều kiện thị trường để nhóm nghiên cứu lựa chọn phương án phù hợp.

Bà Tân cho rằng không nên trông chờ doanh nghiệp tự tìm đến phòng thí nghiệm sau khi biết một công nghệ mới được phát triển. Việc kết nối cần chủ động hơn, từ xác định vấn đề của doanh nghiệp, thử nghiệm sản phẩm đến lựa chọn hình thức triển khai.

Bên cạnh đó, quá trình thương mại hóa công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước còn liên quan đến định giá và phân chia lợi ích giữa các bên. Theo bà Tân, giá trị công nghệ không thể chỉ được xác định từ phía đơn vị bán hoặc cơ quan chủ trì nghiên cứu. Giao dịch chỉ có thể hình thành khi mức giá và lợi ích được các bên chấp nhận. Sau khi thống nhất giá trị công nghệ, cần làm rõ quyền lợi của Nhà nước, cơ sở nghiên cứu, nhà khoa học và các bên tham gia phát triển, sản xuất sản phẩm.

Bà cũng lưu ý rằng chính sách và cơ chế triển khai cần có độ linh hoạt nhất định. Những mô hình mới khó có thể được thiết kế hoàn chỉnh ngay từ đầu; quá trình thực hiện cần đi kèm đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh theo điều kiện thực tế.

Với kinh tế sinh học, nơi nhiều kết quả nghiên cứu phải trải qua quá trình hoàn thiện sản phẩm, thử nghiệm chất lượng và tổ chức sản xuất trước khi tạo ra doanh thu, việc giảm rủi ro ở giai đoạn đầu có ý nghĩa quan trọng. Mô hình thử nghiệm trên hệ thống sẵn có không thay thế được mọi khoản đầu tư hay bảo đảm sản phẩm chắc chắn thành công, nhưng có thể giúp doanh nghiệp ra quyết định dựa trên bằng chứng thực tế thay vì phải đặt cược phần lớn nguồn lực ngay từ đầu.

Bài toán vì thế không dừng ở việc tạo ra công nghệ mới. Điều cần thiết là xây dựng được con đường để công nghệ trở thành sản phẩm, sản phẩm được thị trường kiểm chứng và doanh nghiệp có đủ năng lực để mở rộng sản xuất khi nhu cầu đã rõ ràng.

Nổi bật
      Mới nhất
      Phát triển kinh tế sinh học: Tránh vòng luẩn quẩn đầu tư trước, tìm thị trường sau!
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO