Kinh tế chia sẻ: Nguy cơ bị các tập đoàn đa quốc gia thâu tóm, lũng đoạn

Kinh tế số - Ngày đăng : 13:55, 06/12/2020

Một số mô hình kinh tế chia sẻ có nguy cơ bị các tập đoàn đa quốc gia thâu tóm và “lũng đoạn”, dẫn tới độc quyền.

Kinh tế chia sẻ phát triển nhanh chóng

Theo dự thảo báo cáo đánh giá tác động một số loại hình kinh tế chia sẻ của Bộ KH-ĐT, ở Việt Nam, mặc dù kinh tế chia sẻ chưa phát triển mạnh nhưng trong những năm gần đây, mô hình này đã có bước phát triển nhanh chóng.

ktcs.jpg
Kinh tế chia sẻ phát triển nhanh chóng - Ảnh: Internet

Theo Bộ KH-ĐT, thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ cũng góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực độc lập, tự chủ của nền kinh tế; phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo, huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của đất nước cho phát triển nhưng không để ai bị bỏ lại phía sau và mọi người đều được hưởng thành quả từ tăng trưởng.

Theo đó, với quy mô dân số 96,2 triệu người (năm 2019), trong đó 68,8% dân số đang sử dụng điện thoại di động (tương đương 64 triệu người), số lượng điện thoại di động, máy tính đang sử dụng cũng rất lớn (trên 130 triệu thuê bao điện thoại di động, trên 47 triệu thuê bao băng rộng di động là máy điện thoại, 13 triệu thuê bao internet băng rộng cố định…); tỷ lệ người dân tiếp cận internet ở mức cao trong khu vực, tỷ lệ lao động trẻ tuổi cao và thu nhập của người dân không ngừng tăng lên, Việt Nam đang là thị trường tiềm năng thu hút đầu tư phát triển kinh tế nói chung và kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ nói riêng.

Kinh tế chia sẻ cũng góp phần không chỉ khắc phục tình trạng bất cân xứng thông tin thị trường mà còn tác động trực tiếp làm tăng tính minh bạch của thị trường. Bên cạnh đó, do kinh tế chia sẻ dựa trên công nghệ thông tin nên doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp được quản lý chính xác, minh bạch hơn.

Huy động phương tiện nhàn rỗi vào kinh doanh

Bộ KH-ĐT cho rằng kinh tế chia sẻ góp phần huy động phương tiện, tài sản nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cho phát triển.

Trong lĩnh vực vận tải, chỉ 2 năm thí điểm (tháng 1.2016 -1.2018), cả nước đã có 866 đơn vị vận tải (doanh nghiệp, hợp tác xã vận tải) với 36.809 phương tiện và thu hút hàng chục ngàn lao động tham gia.

Riêng trên địa bàn TP.HCM đã có 506 đơn vị vận tải, 3 nhà cung cấp phần mềm, với 21.601 xe tham gia thí điểm; trên địa bàn Hà Nội có 354 đơn vị vận tải, 7 nhà cung cấp phần mềm, với 15.046 xe tham gia thí điểm...

Trong lĩnh vực lưu trú du lịch, ước tính đến tháng 1.2019 đã huy động được khoảng 18.230 cơ sở lưu trú tham gia mô hình Airbnb ở Việt Nam và còn nhiều cơ sở kinh doanh chia sẻ phòng ở, phòng làm việc đăng ký ở các ứng dụng khác.

Trong lĩnh vực thông tin và truyền thông, các doanh nghiệp gồm Viettel, VNPT, Mobiphone, Gtet đã thực hiện ký kết thỏa thuận sử dụng chung vị trí trạm BTS.

Tổng số trạm mà các doanh nghiệp này thỏa thuận sử dụng chung với nhau là gần 2.100 trạm, nhờ đõ đã làm tăng hiệu quả đầu tư, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp hàng tỉ đồng.

Đối với loại hình kinh tế chia sẻ kết hợp văn phòng-khách sạn, theo số liệu thống kê các dự án bất động sản do Bộ Xây Dựng thẩm định thiết kế cơ sở, từ năm 2015 đến nay có khoảng trên 58.000 căn hộ Officetel đã được đầu tư xây dựng thuộc trên 130 dự án, trong đó có 60 dự án với trên 17.000 căn officetel và trên 70 dự án với khoảng trên 41.000 căn Condotel.

Trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, loại hình Fintech đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của các công ty, doanh nghiệp công nghệ lớn tại Việt Nam như FPT, Viettel, VNPT…qua các hoạt động trực tiếp và gián tiếp như đầu tư hình thành các công ty Fintech, thành lập các quỹ đầu tư, vườn ươm hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp Fintech…

Các nhà đầu tư nước ngoài cũng rất quan tâm đến thị trường cho vay tiêu dùng của Việt Nam, trong số khoảng 100 công ty P2P lending đã đi vào hoạt động chính thức và đang trong giai đoạn thử nghiệm ở Việt Nam, phần lớn là các công ty của nhà đầu tư nước ngoài (Tima, Trust Circle, Lendomo, Wecash, Interloan…). Trong đó, có một số công ty P2P lending có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nga, Singapore, Indonesia.

Trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, đã thu hút đầu tư của một số công ty cung cấp nền tảng để chủ nguồn thải ở Việt Nam có thể sử dụng như Rada, mGreen, Grae, Kalava để yêu cầu dịch vụ thu gom chất thải có khả năng tái chế và phân loại tại nguồn (từ tháng 1.2018, công ty cổ phần Rada đã triển khai ứng dụng “Rada” giúp người dùng đặt dịch vụ theo yêu cầu, trong đó có dịch vụ thu gom chất thải điện tử).

Theo Bộ KH-ĐT, khi kinh tế chia sẻ phát triển nhanh và mạnh trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, kéo theo nhu cầu đầu tư phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số và các lĩnh vực logistics khác, tạo ra hiệu ứng tràn về đầu tư đối với nền kinh tế, nhờ đó nâng cao quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Nguy cơ lũng đoạn, độc quyền

Tuy nhiên, theo Bộ KH-ĐT, trong một số mô hình kinh tế chia sẻ có nguy cơ bị các tập đoàn đa quốc gia thâu tóm và “lũng đoạn”.

Hiện đang có xu hướng các tập đoàn lớn của nước ngoài với ưu thế về vốn và công nghệ đẩy mạnh mua lại cổ phần chi phối tại các công ty thuộc loại hình KTCS ở Việt Nam.

Thậm chí các tập đoàn nước ngoài chấp nhận thua lỗ trong ngắn hạn để chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài giữ vai trò dẫn dắt và chi phối các chủ thể tham gia các mô hình kinh doanh chia sẻ ở trong nước và kết nối với mạng lưới các chi nhánh khác ở nước ngoài.

Trên thực tế, Grabcar, Uber, Fastgo… đã đầu tư mở thị trường và phát triển mạng lưới, chi phối thị trường dịch vụ vận tải trực tuyến Việt Nam; tương tự, lĩnh vực dịch vụ chia sẻ phòng ở cũng chủ yếu do Airbnb, Expedia,…chi phối.

Trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, thị trường dịch vụ P2P lending đang chủ yếu do các nhà đầu tư có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nga, Indonesia, Singapore…chi phối.

Vì vậy nếu không khẩn trương ban hành và triển khai chiến lược hỗ trợ doanh nghiệp trong nước thì có thể dẫn đến hiện tượng bị nước ngoài chi phối hoàn toàn thị phần kinh tế chia sẻ trong nước.

Ngoài ra, các đối tác khác của mô hình kinh tế chia sẻ khi không cập nhật được thông tin, công nghệ sẽ trở thành đối tượng yếu thế, mất việc làm,… vì không theo kịp hoặc bị hình thức kinh doanh mới thống lĩnh, chiếm thị phần.

Hơn nữa, thị trường một số sản phẩm có thể bị lũng đoạn bởi doanh nghiệp kinh tế chia sẻ khi kinh tế chia sẻ phát triển mạnh và có lợi thế cạnh tranh, chiếm giữ thị phần lớn trên thị trường một số ngành sản phẩm dịch vụ.

Các doanh nghiệp là nền tảng trong các mô hình kinh doanh chia sẻ sẽ có thể thôn tính và lũng đoạn thị trường khi kinh doanh với mức giá thấp so với giá thành để lôi kéo người tiêu dùng và tiến tới độc quyền sau khi loại các đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức truyền thống.

Nguy cơ đó tăng lên khi thị trường một số ngành sản phẩm có nhiều doanh nghiệp nền tảng theo mô hình với nền tảng tập trung (bản thân nền tảng sở hữu tài sản cung cấp dịch vụ với giá tiêu chuẩn do nền tảng đưa ra).

Nguy cơ này có thể được kiềm chế, kiểm soát nếu Nhà nước có chính sách và cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ “quyền lực” của các nền tảng trên thị trường từng ngành sản phẩm. Đây đang là một thách thức đối với các cơ quan quản lý Nhà nước.

Lam Thanh