Lý giải người Quảng Nam hay cãi: Đi tìm từ lịch sử

Câu chuyện văn hóa - Ngày đăng : 11:18, 01/08/2022

Đã nhiều người bàn về tính hay cãi của người Quảng Nam, lý giải được nhiều người nghĩ đến có thể quy vào ba nguyên nhân chính mang tính lịch sử.

Có rất nhiều chuyện vui về tính hay cãi của người Quảng Nam. Xin ví dụ hai chuyện, một khá mới và một khá cũ. Chuyện khá mới là chuyện lớp trẻ vào Sài Gòn làm việc gần đây. Như đã nói ở phần “Giọng nói Quảng Nam”, giọng Quảng và giọng Sài Gòn là cùng phương ngữ nên rất dễ hòa nhập, nhiều người Quảng Nam vào Sài Gòn 3 tháng là mất giọng. Thế nhưng điều đó rõ ràng là không hay đối với người già, hoặc người không xa quê, họ khó chịu vì ai đó nói giả giọng, không đúng giọng quê mình.

Một anh thanh niên lao động ở Sài Gòn về tết, sang thăm ông bác hàng xóm: “Bác dạo này sao bác” (Người Quảng Nam không nói vậy mà thường là: Hồi ni bác răng, khỏe không...). Ông già nghe đã ngứa lỗ tai, thủng thẳng hỏi: “Con mới dề đó hả”. “Dạ Con mới dìa”. “Hư...ừm... rứa chớ hồi mô dô lại rứa con”. “Dạ, ra tớt con dô trỏng lại đó bác, dạ, có chi không bác”. “Ừ, hồi mô dô nhớ nói bác biết, bác gởi cái ni”. “Dạ, cái chi bác”. “Chẳng có chi, nói để tui gởi con chó vô ba tháng về sủa tiếng Sài Gòn nghe chơi”! Chuyện này không phản ánh tính hay cãi nhưng phản ánh tính nói gay, có chi nói thẳng, của người Quảng, xét cho cùng nó cũng họ hàng đâu đó với tính hay cãi.

Chuyện này thì khá cũ, chuyện xảy ra ở Tân Bình, Sài Gòn thời Pháp, lúc đó vùng này còn thưa thớt người ở, có nhiều gia đình Quảng Nam đầu tiên vào làm nghề dệt ở đây. Có một mẹ đẻ khó, bà mụ làm hết cách rồi nhưng đứa trẻ vẫn không chịu ra, lúc này bệnh viện cũng chưa có, mà trời thì đang sắp tối, không khéo... Gia đình rất lo lắng, chưa biết tính sao, thì có một ông thầy đồ đi qua, thấy cả nhà xôn xao mới vào hỏi chuyện. Nghe người nhà nói xong ông phẩy tay: “Tưởng chi, để tui”. Nói xong ông bước vào buồng, nhìn quanh rồi hét lớn: “Mặt trời lên cây sào rồi kìa, con trai con lứa gì mà ngủ nướng, hư quá!”. Nói xong lão quay ra, vừa bước ra khỏi cửa buồng đã nghe tiếng trẻ khóc oa oa. Có người hét: Con trai! Ông thầy giỏi thiệt! Cả nhà mừng rơn, vội cơm nước đãi thầy đồ. Khi mọi chuyện đã yên, cơm rượu cũng xong, người nhà mới hỏi ông làm cách gì mà tài vậy. Lão thầy đồ thủng thẳng đáp: “Tui nghe giọng thì biết cả nhà mình người Quảng Nam mới vô đây mần ăn phải không? Mà người Quảng thì hay cãi phải không? Hì hì... trời gần tối mà tui nói đã sáng, đồ lười, là hắn có ngủ nướng cũng phải chui ra mà cãi chớ răng. Khà khà.... đúng là đầu hàng với dân Quảng Nam các ông!”.

Và đây là chuyện thật trăm phần trăm, những chuyện trên dầu sao cũng là giai thoại, nhằm minh họa hơn là phản ảnh, riêng chuyện này thì không chỉ phản ảnh mà còn cho thấy sự căng thẳng trong giao tiếp của cái tính cách khá dễ nhận ra này. Trong sách “Hồi ký trên đường đi tìm Tú Quỳ” tác giả Thy Hảo Trương Duy Hy kể: “Thật khó quên buổi hội kiến với cụ Nguyễn Xương Thái, nguyên thư ký báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Cụ Thái người Điện Bàn. Hồi đó có đôi bạn đến bảo tôi nên tìm gặp cụ vì chắc cụ biết nhiều về Tú Quỳ, nhất là nghiệp vụ ngày cụ làm báo Tiếng Dân, hẳn cụ gần gũi với nhiều vị túc nho. Riêng tôi không lạ gì cụ! Cuối năm 1959, tôi gặp cụ trong bữa tiệc mừng đầy tháng do người bạn khoản đãi tại Điện Bàn, với lý do vợ anh vừa sinh con thứ bảy là trai, sáu đứa đầu đều là gái cả. Số thực khách được giới hạn là hiệu trưởng, các thầy dạy cấp II trường Diên Hồng, trường Sào Nam; vợ chồng bác sĩ Quý ở Hội An, ông quận Thái quận trưởng Điện Bàn. Sau khi gia chủ quận Thái cho phép đốt pháo trước khi vào tiệc và gia chủ tuyên bố lý do, cụ Thái đứng lên phát biểu, nói chậm rãi:

- Đại diện cho các ông các bà tham dự bữa tiệc hôm nay tôi xin có đôi lời: Bữa tiệc này là bữa tiệc mừng gia chủ sinh được một con trai. Tôi thấy các món ăn bày biện ở đây rất ngon, vậy chúng tôi được mới đến là để ăn! Còn như mừng cháu trai thì không dám mừng, vì lỡ như ngày sau lớn lên, nó làm điều bất lương hại nước, hại dân thì mừng sao được!!!...

Gia chủ đứng cạnh vâng vâng, dạ dạ chứ không dám phản ứng gì cả. Gia chủ là anh Thiệp, vừa ra tù do Diệm bắt, về sau làm dân biểu quốc hội ở Sài Gòn, nay định cư ở Hoa Kỳ.

Chưa hết, trước khi chia tay cụ Thái lại đứng lên cảm ơn:

- Bữa tiệc ngon quá! Chúng tôi rất cảm ơn gia chủ và chúc gia chủ... sang năm cũng lại sinh con trai nữa để chúng tôi lại được mời ăn!”. (hết trích)

Thật hết biết. Chuyện cụ Ông Ích Khiêm mời các quan trong huyện đến ăn tiệc rồi mắng người nhà khi gọi nước mấy lần không bưng lên: “Mả cha bọn bây, cứ vục mặt vô ăn mà không lo chi đến nước!”. Ở đây, bữa tiệc đầy tháng này không có lý do gì để mắng ai cả, hay cụ muốn nói kháy vị quận trưởng Điện Bàn cũng có mặt trong buổi tiệc? Nhưng nếu vậy thì tội cho gia chủ, tội cho cả đứa bé nữa chứ. Cụ Thái rõ ràng là người có học, có chữ thế nhưng cái tính cách khi đã nghĩ trong đầu thì phải nói ra đằng miệng cho bằng được này thì rất rõ nét tính cách đặc trưng của người Quảng Nam.

*

Đã nhiều người bàn về tính hay cãi của người Quảng Nam, lý giải được nhiều người nghĩ đến có thể quy vào ba nguyên nhân chính:

1/ Đây là nơi có môi trường sống không dễ dàng, thậm chí khắc nghiệt, mùa hè thì nóng bức, mùa mưa thì bão lụt, con người phải mạnh mẽ lắm mới tồn tại được, lâu ngày thành thói quen, nên có tính cách mạnh mẽ, dữ dội.

2/ Đây là nơi lưu đày các tội đồ của triều đình, là nơi tụ hội của dân tứ chiến, đầu trộm đuôi cướp. Chính cái tính cách mạnh mẽ dữ dội của họ đã truyền lại cho con cháu mà thành nên tính cách quyết liệt của người Quảng hôm nay.

3/ Đây là đất của người Chăm, mà trong lịch sử người Chăm được Sử ký toàn thư ghi lại là họ luôn cướp phá vùng ven biển. Trong các nghiên cứu của các học giả phương Tây thì người Chăm giỏi nghề đi biển (1) và trong sự giao lưu, tiếp biến văn hóa người Việt tiếp thu nhiều thứ trong đó tiếp thu cả tính cách “ăn sóng nói gió” này. Đặc biệt, trong “Dư Địa chí” của Nguyễn Trãi có câu khi đề cập đến vùng Thuận Hóa: “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm, tính tình hung hãn, quen khổ sở” (2) (Ý này thực ra chưa nhiều người đề cập đến nhưng ta có thể xem đây như một ý kiến quan trọng cần xét đến nếu muốn chạm đến cái gì lớn lao hơn).

Có lẽ ngay bản thân những người nêu lên các nguyên nhân giả định này cũng cảm thấy có gì đó không ổn, nói thì nói vậy chứ ai cũng biết Quảng Nam chưa phải là nơi có môi trường khí hậu khắc nghiệt nhất, nếu phải bầu chọn thì có lẽ Quảng Trị, Quảng Bình mới là nơi có môi trường sống khó khăn nhất; thế nhưng ta lại thấy đó lại là nơi lạc quan nhất nước, khôi hài nhất nước với chuyện trạng Vĩnh Hoàng, chẳng hạn. Và thực tế tính cách người Quảng Trị, Quảng Bình là khá vui nhộn, nhẹ nhõm.

Còn nếu như đây là cá tính của những tội nhân lưu đày từ năm, sáu trăm năm trước thì bản thân quê hương họ vùng Thanh Nghệ, nơi tạo nên những tính cách đó mới là nơi lưu giữ sự say gắt hoặc hay cãi chứ? Và nữa, những nơi lưu giữ tội nhân lưu đày, hoặc tập hợp dân tứ chiến trong lịch sử như vùng đất phương Nam hoặc miền Tây Nam bộ sao lại không có tính cách này?

Nếu đây là sự kế thừa tính cách của người Chăm thì cớ sao vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên lại không nổi bật tính hay cãi này trong khi các vùng đất này mới chính là nơi người Chàm sinh sống và chuyển sang Việt muộn hơn rất nhiều so với Quảng Nam?

Từ góc nhìn phân kỳ lịch sử chúng ta hiểu cần phải nhìn vấn đề ngay trong cái thời gian đằng đẵng 500 năm ấy. Đã thực sự đã có ngót 500 năm hai tộc người Chăm - Việt sống cạnh nhau, tôn trọng, hòa hiếu hay không tùy theo từng thời nhưng chắc chắc rằng trong suốt 500 năm đó, bất cứ tộc người nào buông lỏng sự giữ gìn bản sắc của mình đều sẽ bị tiêu vong.

Có nhiều bằng chứng cho biết đến năm 1.802 (khi Gia Long lên ngôi) ở Đà Nẵng Quảng Nam vẫn còn rất nhiều những làng Chàm sinh sống, thậm chí họ vẫn bảo lưu được giọng nói, y phục của mình mặc dù đã mất chủ quyền từ 500 năm trước (3). Điều đó có nghĩa là họ, người Chàm, đã ý thức về bản sắc văn hóa của mình và họ quyết bảo lưu, giữ gìn nó. Hãy thử hình dung họ bảo lưu bằng cách gì nếu đó không phải là thái độ phê phán gay gắt những gì khác mình? Những khảo sát ban đầu cho thấy suốt một thời gian dài các làng Chăm - Việt ấy đã cài da báo, sống xen kẽ nhau, làng này cách làng kia một cánh đồng, một con bàu, hay thậm chí một con đường làng chỉ lọt chiết xe bò! Có nghĩa là mở mắt ra đồng họ đã chạm nhau; hai thửa ruộng chỉ cách nhau một con đường hay bờ ruộng nhỏ.. có nghĩa là sự va chạm là dai dẳng trong suốt thời gian hơn nửa thiên niên kỷ ấy.

Có nhiều bằng chứng về sự xung đột hai nền văn hóa này. Chiếu bình Chiêm có những câu “ Bọn búi tóc dùi”, “Nó cấm dân ta mổ thịt”... Tại sao lại cấm mổ thịt? Vì người Chăm thờ bò trong khi người Việt thì mổ bò khi cả làng ăn hội (ồn như mổ bò). Trong khi người Việt bảo người phụ nữ phải tam tòng tứ đức phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng thì người phụ nữ Chăm nắm hết quyền hành gia đình, cởi áo phơi ngực ra mà nhảy múa ngày lễ hội. Khi người Việt bảo Trời, Phật mới là tối thượng thì người Chăm bảo không Siva, Visnu mới là đấng tối cao... Cứ vậy họ đã cãi nhau suốt cái thời gian đằng đẵng ấy. Người lớn cãi là dĩ nhiên mà trong những phạm trù này trẻ con cũng rất thích cãi: “Tau đi đường ni có bông có hoa. Mi đi đường nớ có ma đứng đường. Tau đi đường ni có bụi tùm lùm. Mi đi đường nớ có hùm chụp mi” (đồng dao Quảng Nam)...

Ai cũng như phải cố trung thành với niềm tin của mình, cố khẳng định mình đúng, có sai phè ra cũng phải cãi cố cho được là mình đúng. Đây không phải chỉ là tính bảo thủ mà là sự sống còn của bản sắc văn hóa, sống còn hay diệt vong của một dân tộc! Và phải chăng chính nhờ thế mà họ đã bảo lưu được bản sắc văn hóa của mình suốt 500 năm? Đến tận năm 1802, khi Gia Long lên ngôi, với những thiết chế văn hóa phong kiến mạnh mẽ, văn minh phong kiến Việt độc tôn, đẩy văn hóa Champa thành sự xa lạ, nhất là dưới thời Minh Mạng, sự xung đột này mới chịu mất đi với sự ưu tiên vượt trội của văn hóa Việt. Thế nhưng tính hay cãi thì đã nhiễm vào máu mất rồi!

(1)Vợ cả Chế Mân là một công chúa Java, điều đó cho biết mối quan hệ biển đảo của Chiêm Thành là vô cùng mật thiết, điều Đại Việt không hề có trong suốt lịch sử của mình. Sức mạnh thủy binh của Chiêm Thành mạnh đến mức các học giả phương Tây như Massepero hoặc Philippe Papin phải gọi họ là những hải tặc đáng gờm.

(2)Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, trang 235.

(3) Xem phần viết về “Hiện tượng Đà Nẵng”

Hồ Trung Tú