Cách mạng công nghệ trong nông nghiệp: Diện mạo nông nghiệp Việt Nam sau nửa thế kỷ
Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, sau hàng chục năm qua, Việt Nam đã vươn lên thành một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu gạo.
Nhìn lại chặng đường dài

Để đạt được kết quả nói trên, có nhiều nguyên nhân, đặc biệt là chính sách đúng đắn về phát triển nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, trong đó khoa học và công nghệ là nhân tố quan trọng.
PGS-TS Nguyễn Văn Vàng, Hiệu trưởng Trường đại học Nông nghiệp (Đại học Cần Thơ) cho rằng: “So với 80 năm trước, nông nghiệp Việt Nam hiện nay đã tiến một bước rất dài từ nông nghiệp canh tác thô sơ lên nền nông nghiệp hiện đại.
Hiện nay, vùng ĐBSCL từ khâu làm đất, gieo sạ, bón phân, phun thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thu hoạch, đưa lúa về và sấy lúa đều sử dụng công nghệ hiện đại”.
Theo PGS-TS Nguyễn Văn Vàng, ở ĐBSCL từ 1945 đến 1968, canh tác lúa vẫn theo kiểu truyền thống, "con trâu đi trước, cái cày theo sau", từ khâu cày trục, bừa, kéo lúa, đạp lúa… đều sử dụng sức kéo của trâu bò.
Phân bò, phân trâu được nông dân sử dụng làm phân hữu cơ bón ruộng. Một năm sản xuất một vụ lúa gọi là vụ mùa, còn lại để đất trống; cũng có nơi khai thác một vụ lúa, một vụ khoai hoặc trồng màu. Từ khâu gieo mạ, bứng lúa, cấy lúa, gặt lúa, đập lúa, phơi lúa đều do sức người. Chính vì vậy, trong giai đoạn này, nông nghiệp, nông thôn chiếm số lượng lao động rất lớn.

Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp - PTNT trước đây, năm 1945, diện tích trồng lúa ở 2 đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là 1,8 triệu và 2,7 triệu ha với năng suất bình quân 13 tạ/ha và sản lượng thóc tương ứng 2,4 - 3 triệu tấn.
Trong thời gian này chủ yếu là các giống lúa cũ, ở miền Bắc sử dụng các giống lúa cao cây, ít chịu thâm canh, dễ đổ, năng suất thấp. Nam Bộ cũng vậy, nông dân sử dụng một số giống lúa truyền thống còn gọi là lúa dài, lúa tròn và lúa thơm. Một thời gian rất dài giống lúa không có đổi mới hay cải tiến. Kỹ thuật canh tác cũng không thay đổi.

Trong suốt 3 thập niên gắn với các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, nền nông nghiệp Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vừa bảo đảm nhu cầu lương thực cho nhân dân, vừa cung cấp lương thực cho tiền tuyến.
Cố GS.TS Võ Tòng Xuân trước đây cho rằng, ở miền Nam năm 1967-1968 có một sự kiện ảnh hưởng rất lớn đến nền nông nghiệp Việt Nam sau này, đó là việc nền nông nghiệp chế độ cũ đưa vào sản xuất giống lúa mới: Thần nông IR8. Đây là giống lúa cao sản, ngắn ngày.
Sản lượng lúa IR8 thời đó có thể lên đến 5-7 tấn. Lúa này sử dụng phân bón hóa học, thuốc chống sâu rầy và năng suất cao. Từ giống lúa thần nông IR8, sau này có hàng chục giống lúa IR… từ Viện nghiên cứu lúa Miền Nam. Việc sản xuất lúa ngắn ngày IR đã chấm dứt hàng trăm năm sử dụng lúa truyền thống, mỗi năm trồng 1 vụ. Đến nay, tuỳ mỗi vùng miền, mỗi năm đã sản xuất được 2-3 vụ lúa. Đây có thể coi lần đổi mới thứ nhất về sản xuất nông nghiệp miền Nam trước 1975.

Sau năm 1975, điều kiện kinh tế đất nước tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi hậu quả nặng nề của chiến tranh và chính sách bao vây, cấm vận từ bên ngoài.
Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, giai đoạn 1976-1980, sản lượng lúa trung bình của cả nước chỉ đạt khoảng 13-14 triệu tấn/năm. Đặc biệt, năm 1978, sản lượng giảm còn 9,79 triệu tấn, mức thấp nhất lịch sử, buộc Việt Nam phải nhập khẩu tới gần 1,6 triệu tấn gạo/năm.
Trong những năm này, ngay cả vùng ĐBSCL nhiều nơi người dân bị thiếu đói. Nguyên nhân do sâu rầy hoành hành, phân bón, thuốc trừ sâu không đủ cung ứng và mất mùa, thiên tai…

Từ năm 1979 đến 1985, sản lượng lúa cả nước tăng từ 11,8 lên 15,9 triệu tấn, nguyên nhân là do ứng dụng giống mới, tăng diện tích và năng suất.
Tính riêng 2 năm 1988 và 1989 sản lượng lương thực tăng thêm 2 triệu tấn/năm. Đặc biệt, trong những năm này, ở miền Nam Cố GS-TS Võ Tòng Xuân lúc đó đã xông vào “chiến trường nông nghiệp” với giống lúa mới, năng suất cao, kháng rầy nâu IR36… Đây là lần thay đổi lần thứ 2 trong nông nghiệp đã đem lại hiệu quả cao. Kết quả là Việt Nam không những không nhập khẩu lương thực mà còn tiến tới xuất khẩu gạo từ những năm 1989-1990.

Từ khi đất nước đổi mới (năm 1986) đến nay, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất lúa, đưa nước ta từ chỗ là nước thiếu ăn triền miên đi đến đảm bảo đủ lương thực cho nhu cầu trong nước, đồng thời xuất khẩu từ 6 - 7 triệu tấn gạo/năm.
Hiện nay nước ta đứng hàng thứ 2 trên thế giới về các nước xuất khẩu gạo.

Cách mạng công nghệ trong nông nghiệp
PGS-TS Nguyễn Văn Vàng cho rằng, hiện nay cuộc cách mạng trong ứng dụng khoa học-công nghệ (KHCN), trong nông nghiệp đi liền với cải cách thể chế, tạo nên bước ngoặt lớn trong nông nghiệp Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực trồng lúa.
Từ một nền sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, lao động thủ công và phụ thuộc vào thiên nhiên, hiện nay, ngành lúa gạo đã chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại, bền vững và giá trị gia tăng.
Nông nghiệp Việt Nam đang đi theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoà, giảm phát thải, chất lượng cao; tận dụng sản phẩm nông nghiệp để mang lại hiệu quả cao nhất đảm bảo môi trường sinh thái.
Bên cạnh những thuận lợi, nông nghiệp Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ việc biến đổi khí hậu, thiếu lao động trẻ, thiếu lao động qua đào tạo; thị trường giá cả lúa gạo cạnh tranh gay gắt; yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng nông sản, truy xuất nguồn gốc... Ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay xác định đi theo hướng KHCN và chuyển đổi số là con đường duy nhất để phát triển.
Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được ban hành. Mục tiêu của chiến lược là hình thành nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, thông minh; tốc độ tăng trưởng nông nghiệp trung bình 2,5-3%/năm; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 60-70 tỉ USD vào năm 2030; 70% sản phẩm nông sản có truy xuất nguồn gốc; 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN-MT) cho thấy, tính đến năm 2025, Việt Nam đã nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất hơn 1.600 giống lúa mới với năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu mới môi trường sinh thái ngày càng cao.
Nhờ đó, năng suất lúa bình quân cả nước đạt khoảng 6,7-7,2 tấn/ha, góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Không chỉ tăng về lượng, chất lượng gạo Việt Nam cũng được cải thiện vượt bậc với sự ra đời của những giống lúa đặc sản như: ST24, ST25, được công nhận trong tốp gạo ngon nhất thế giới.
Một trong những đột phá lớn là tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất lúa ngày càng cao. Theo Bộ NN-MT, đến năm 2025, tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất đạt trên 97%, còn trong khâu thu hoạch đạt trên 70%.
Việc áp dụng máy móc hiện đại không chỉ giảm sức lao động mà còn rút ngắn thời gian sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm tổn thất sau thu hoạch. Cùng với đó, các tiến bộ kỹ thuật như hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), sản xuất theo quy trình VietGAP, GlobalGAP, hay mô hình hữu cơ được triển khai rộng khắp, tạo ra những cánh đồng lúa sạch, an toàn, thân thiện với môi trường.
Những mô hình nông nghiệp công nghệ cao không chỉ dừng lại ở sản xuất mà còn hình thành hệ sinh thái khép kín từ canh tác, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ.
PGS-TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ NN-MT, đánh giá: “Việc kết hợp giữa KHCN và thể chế mới là đòn bẩy giúp nông nghiệp Việt Nam bứt phá, không chỉ bảo đảm ổn định an ninh lương thực mà còn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu với những sản phẩm có chất lượng, có thương hiệu”.
Theo báo cáo của Bộ NN-MT, từ năm 2010 đến nay, Việt Nam duy trì xuất khẩu trung bình 6 -7 triệu tấn gạo/năm. Năm 2023, xuất khẩu gạo đạt gần 8,3 triệu tấn, kim ngạch hơn 4,78 tỉ USD. Đặc biệt, 6 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu gạo đạt 4,9 triệu tấn, thu về 2,54 tỉ USD.
Hiện, nước ta xếp thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, Việt Nam chuyển mạnh sang nông sản chất lượng cao như: Gạo ST25, cà phê đặc sản, tôm hữu cơ, trái cây chế biến sâu... Theo PGS-TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Việt Nam đang không chỉ cung cấp sản phẩm mà còn cung cấp giá trị xanh, giá trị bền vững, truy xuất được nguồn gốc và gắn với trách nhiệm xã hội toàn cầu.

Ông Lê Minh Hoan, Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, cho rằng: “Nông nghiệp Việt Nam không chỉ là câu chuyện của lương thực mà còn là văn hóa, sinh thái và giá trị nhân văn. Hành trình phát triển thần kỳ của nông nghiệp Việt Nam đã được viết nên bằng mồ hôi, khát vọng và trí tuệ của người nông dân, nhà khoa học và cả hệ thống chính trị. Tin rằng, thời gian tới, nông nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục là ngành kinh tế chủ lực cho sự phát triển bền vững của đất nước”.