Vì sao ĐBSCL rất ít doanh nghiệp chế biến trái cây có múi?
Nguyên Chủ tịch UBND huyện Tam Bình (Vĩnh Long) Nguyễn Thanh Phong cho rằng cây có múi ở ĐBSCL rất nhiều nhưng vùng trồng loại trái này theo chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm không nhiều; nguồn cung cấp không ổn định, thiếu vùng chuyên canh.

Trồng cam sành theo công nghệ hiện đại
Những hạn chế về nguồn nguyên liệu khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chế biến trái cây có múi phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Cũng theo ông Nguyễn Thanh Phong, nông dân Tam Bình (Vĩnh Long) có thói quen “truyền thống” là sử dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu trong trồng trọt cam sành và nhiều loại cây khác. Họ muốn bón thúc cho cây lớn nhanh. Trái cây thì muốn đẹp và không bị sâu rầy, chính vì vậy bà con thường xài phân bón, thuốc trừ sâu như một “truyền thống”.
Thật vậy, nếu ai từng tìm hiểu cây cam sành sẽ rõ. Cây trồng bằng hạt sống khoảng 10 - 30 năm và cho trái, nhưng cây trồng bằng cách tháp, chiết, ghép chỉ tồn tại 6 - 7 năm thì nông dân phá bỏ rồi trồng cây mới. Nhà vườn trồng cây giống cam sành tháp, chiết, ghép, sau đó dùng phân bón hóa học, phun thuốc trừ sâu để chống sâu bệnh, thúc 2 năm thì cây cho trái. Thu hoạch khoảng 4 - 5 năm nữa là kết thúc đời vườn cam sành. Đây có thể nói là “công nghệ” trồng cam sành phổ biến của nông dân ĐBSCL thời gian qua.
Công nghệ này tuy đem lại sản lượng hằng năm ở ĐBSCL khoảng 1,5 triệu tấn nhưng hậu quả ngay trước mắt. Cam nhiều nhưng doanh nghiệp chế biến cam sành xuất khẩu không nhiều. Đó là chưa kể trái cam sành trồng kiểu ấy tuy to, bóng, đẹp… nhưng chỉ khoảng 5 - 10 ngày là bị ủng, thối, hỏng. Người mua cũng "ngại" loại cam này bởi nó không đảm bảo an toàn.

Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp - Môi trường), toàn khu vực ĐBSCL hiện nay diện tích cam sành khoảng 100.000ha. Mặc dù diện tích trồng tăng, nhưng mô hình canh tác vẫn còn nhỏ lẻ, đa dạng (xen các loại cây khác), và chưa hình thành vùng chuyên canh rõ ràng, dẫn đến hạn chế trong thu hoạch đồng đều và quy mô lớn.
Phần lớn nông dân canh tác quy mô nhỏ (dưới 1ha/hộ), khó tổ chức sản xuất tập trung. Thiếu hợp tác xã chuyên nghiệp hoặc mô hình liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm không đồng đều. Giống cây trồng chưa được kiểm soát chặt chẽ. Nhiều hộ trồng theo kinh nghiệm, chưa áp dụng kỹ thuật đồng bộ, khó đạt chất lượng đồng đều để chế biến hoặc xuất khẩu. Hậu cần và bảo quản sau thu hoạch yếu kém.
TS Nguyễn Quốc Mạnh (Cục Trồng trọt) nhận xét về việc phát triển cây có múi, nhất là cam sành: "Cây cam sành hiện nay còn nhiều hạn chế: cơ cấu giống địa phương là chủ yếu, trong đó nhiều giống mẫu mã, chất lượng chưa cao, thoái hóa, nhiều hạt, làm giảm sức cạnh tranh sản phẩm ăn tươi, khó khăn cho công nghiệp chế biến. Tình trạng lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học, nên có nơi có lúc người tiêu dùng giảm lòng tin, quay lưng với sản phẩm khiến cho giá cả giảm mạnh".
Theo ông Mạnh, giá thành sản xuất của sản phẩm cây có múi còn khá cao, làm giảm sức cạnh tranh. Nguyên nhân cơ bản là năng suất thấp và chưa ổn định. Chuỗi giá trị còn quá nhiều khâu trung gian, chủ yếu là thương lái, chưa hợp lý về phân chia lợi nhuận, đặc biệt lợi nhuận cho người nông dân trực tiếp sản xuất.

Rất ít doanh nghiệp chế biến trái có múi
Hiện chưa có thống kê công khai nào cho biết có bao nhiêu nhà máy chế biến nước ép từ trái cây có múi tại ĐBSCL. Tuy nhiên, những dữ liệu sau cho thấy vùng này có diện tích trồng cây có múi rất lớn, nhưng chế biến vẫn nhỏ lẻ và phân tán.
Một số cơ sở chế biến trái cây trong vùng có thể xử lý cả trái có múi, dù không chuyên. Ví dụ rõ nhất là sản phẩm Frozen Calamansi Juice từ công ty AgroGreen (Đồng Tháp). Doanh nghiệp này tham gia chế biến trái cây có múi nhưng sản lượng không đáng kể. Tại Cần Thơ, Le Fruit - Les Vergers du Mékong chế biến các sản phẩm như nước ép, mứt từ các loại trái cây ổi, thơm, xoài..., cam cũng chỉ là phần nhỏ.
Chính vì không có doanh nghiệp chế biến cam xuất khẩu nên lâu nay người ta cứ loay hoay chuyện “giải cứu” cam sành.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, lý giải: “Nông dân trồng cam sành theo phong trào, không xuất khẩu được, cung vượt cầu lại chủ yếu dựa vào thị trường nội địa không ổn định. Trong khi đó, có những nhà máy chế biến có tiêu thụ cam nhưng lạm dụng hương liệu hóa chất nên việc sử dụng nguyên liệu từ cam sành khá hạn chế. Với trái cam sành của Việt Nam, chưa nói về chất lượng, chỉ nhìn vào hình thức bên ngoài đã xấu hơn trái cam của Trung Quốc và các nước khác”.