Cà phê Một thế giới

GS.AHLĐ Nguyễn Anh Trí: ‘Tôi không biết sợ khó khăn’

Lê Minh Đức 08/09/2025 14:43

Ngay từ những lời mở đầu cuộc trò chuyện, Giáo sư, Anh hùng Lao động Nguyễn Anh Trí đã nói tới truyền thống gia đình, tình yêu quê hương, đất nước như một “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong sự nghiệp: “Tất cả hoà quyện vào nhau, thấm đẫm trong tôi, giúp tôi có thêm động lực, ham học, ham làm, muốn được cống hiến cho đất nước. Người dân cần gì, cuộc sống cần gì thì tôi đi vào hướng đó, phục vụ theo hướng đó”.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version_01.jpg

Nghe danh GS Nguyễn Anh Trí đã lâu nhưng mãi tới giữa tháng 8 vừa qua, tôi mới có dịp gặp ông tại Lễ khai trương trưng bày “Đóng góp của các nhà khoa học Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sắp bước sang tuổi 69 nhưng Giáo sư vẫn rất nhanh nhẹn, đầy nhiệt huyết nói về các kỷ vật đang được trưng bày tại Bảo tàng Di sản các Nhà khoa học Việt Nam (MEDDOM). Tại đây, có từng đôi dép, từng quyển sổ, ngòi bút, cái kính… - những kỷ vật vô giá của các nhà khoa học đi trước như GS Đặng Văn Ngữ, GS Tôn Thất Tùng…, qua đó giúp thế hệ trẻ ngày nay hiểu được, tiếp nối và phát huy truyền thống say mê nghiên cứu khoa học: “Nếu không tâm huyết, không quyết tâm, làm việc không vì những lý tưởng cao cả thì có lẽ MEDDOM không thể thành hình”, GS Nguyễn Anh Trí tự hào nói.

Ngay từ thời điểm đó, tôi đã lên kế hoạch gặp gỡ GS Nguyễn Anh Trí để tiếp tục lắng nghe ông chia sẻ nhiều hơn, sâu hơn về hành trình đưa một cậu bé quê ở Lệ Thuỷ (Quảng Bình, bây giờ là xã Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Trị) trở thành chàng sinh viên Đại học Y Hà Nội và sau này trở thành GS, AHLĐ, Thầy thuốc nhân dân, đại biểu Quốc hội Nguyễn Anh Trí với những đóng góp to lớn cho ngành Y tế Việt Nam. Và nửa tháng sau, ông mới có thể thu xếp, trả lời phỏng vấn Cà phê Một Thế Giới trong khoảng 1,5 giờ đồng hồ.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version_03.jpg

- Thưa Giáo sư, cơ duyên nào đã đưa ông tới quyết định sáng lập MEDDOM – nơi tôn vinh đóng góp của lớp lớp thế hệ các nhà khoa học Việt Nam?

- GS Nguyễn Anh Trí: Trong những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường, tôi luôn rất quý trọng các thầy của tôi. Tôi may mắn được học Đại học Y Hà Nội, dưới sự chỉ dạy của những người thầy rất giỏi, phần lớn được đào tạo, được thừa nhận và phong danh hiệu Giáo sư tại các nước có nền y học hàng đầu thế giới như Pháp, Liên Xô... Thầy hiệu trưởng ký quyết định để tôi trở thành sinh viên Đại học Y Hà Nội là GS Hồ Đắc Di. Những thầy cô trực tiếp dạy tôi như GS Tôn Thất Tùng, GS Hoàng Thuỷ Nguyên, GS Bạch Quốc Tuyên, GS Phạm Khuê, GS Phạm Mạnh Hùng… là một thế hệ các nhà giáo, nhà khoa học rất giỏi về chuyên môn và tư cách đạo đức vô cùng tuyệt vời. Điều đó, tác động rất lớn tới cá nhân tôi và tôi luôn mang ơn họ.

Có một câu chuyện diễn ra vào khoảng thời gian tôi làm nghiên cứu sinh, khi góp ý cho tôi, mỗi thầy phê một kiểu chữ, một nội dung, mỗi giọng văn khác nhau. Với tôi, những lời phê đó không chỉ có giá trị làm luận án, mà còn có giá trị trong suốt cuộc đời mình. Tôi thầm ghĩ, phải làm cách nào đó để giữ lại những bút tích, lời phê của các thầy. Và cũng phải mở rộng ra các lĩnh vực khác chứ không chỉ có y khoa.

Từ suy nghĩ đó, tôi nguyện phải làm bằng được một Bảo tàng di sản các nhà khoa học Việt Nam. Ý nghĩ đó luôn thôi thúc tôi, kể cả khi tôi đi du học Nhật Bản, rồi về nước lập hệ thống y tế MEDLATEC, làm Viện trưởng Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương. Khi tôi sáng lập MEDLATEC, cũng chỉ với tinh thần phục vụ cộng đồng và giúp các đồng nghiệp của mình có thêm điều kiện làm việc, cải thiện cuộc sống. Nhưng không ngờ sau đó MEDLATEC phát triển rất mạnh và tới năm 2004, Tập đoàn y tế MEDLATEC đã mua được một mảnh đất 2,7 ha tại vùng rừng khá xa ở Cao Phong - Hoà Bình (tên cũ). Sau đó, chúng tôi xin được tỉnh Hoà Bình cấp phép để làm dự án xây dựng Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam (MEDDOM PARK) và MEDDOM ở đó.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version_05.jpg

- Ông đã nhắc tới những người thầy mà mình kính trọng. Vậy ông có thể chia sẻ những bài học không thể nào quên?

- GS Nguyễn Anh Trí: Bài học thì có rất nhiều nhưng tôi muốn nhắc tới tinh thần chung của cả một thế hệ. Thế hệ các thầy của chúng tôi công tác, giảng dạy, nghiên cứu trong thời điểm đất nước ta vừa kết thúc chiến tranh kháng chiến chống Pháp, tiếp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ. Họ khát khao được đóng góp, được cống hiến cho đất nước, cho nhân dân. Chúng tôi may mắn được lĩnh hội tinh thần, tác phong ấy từ các thầy, trong học tập, trong làm việc. Nổi bật nhất là tinh thần khắc phục khó khăn, vượt lên trên tất cả, không bao giờ kêu ca hay phàn nàn.

Để sáng tạo ra phương pháp cắt gan khô – một thành tựu có ý nghĩa bước ngoặt trong y học và được thế giới đánh giá cao, thầy Tôn Thất Tùng bằng những công cụ thô sơ đã miệt mài nhiều ngày ở nhà thương, đã phẫu tích hơn 200 lá gan tử thi từ năm 1935 đến 1939, thầy vẽ lại trong các sơ đồ rồi đối chiếu với nhau để tìm được những nét chung, cho ra thành quả là sơ đồ các đường mật, động mạch, tĩnh mạch trong gan. Để rồi cuối cùng, thầy Tôn Thất Tùng đã đưa ra phương pháp mổ gan “khô” nổi tiếng, mà cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có phương pháp nào ưu việt hơn thay thế.

Còn thầy Đặng Văn Ngữ mang một mẫu nấm Penicillin từ Nhật Bản đi vòng về Thái Lan, lên chiến khu Việt Bắc, sau đó sản xuất thành dung dịch Penicillin để rửa vết thương cho bộ đội, cứu được hàng vạn thương binh.

Các thầy làm mà không nghĩ tới một đồng tiền công nào cả, tất cả chỉ vì nhân dân, vì Tổ quốc. Và nhờ các thầy truyền thụ mà sau này tôi cũng muốn có những đóng góp, những cống hiến cho đất nước. Đặc biệt, nhờ những tấm gương đó mà tôi cũng không biết sợ những khó khăn. Tôi nghĩ các thầy tôi còn khó khăn hơn tôi nhiều mà họ vẫn nghiên cứu được, vẫn thành danh được, thế thì tại sao mình lại không thể?

Giai đoạn tôi học Đại học Y Hà Nội 9 năm từ 1976 đến 1985, trong đó có 6 năm Đại học, 3 năm làm bác sĩ nội trú, cũng là thời kỳ gian khổ nhất của đất nước. Chúng ta chủ yếu ăn bo bo, ăn mì cục, nhưng có những hôm cũng chẳng còn gì mà ăn, tôi uống nước đi ngủ cho qua bữa. Đến giờ nhìn lại, tôi thấy những năm tháng nghèo khổ vô cùng giá trị, giúp tôi luyện, hun đúc ý chí, quyết tâm cho mình.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version_07.jpg

- Có quan điểm cho rằng, thế hệ trẻ ngày nay thiếu say mê, đam mê khoa học so với những bậc tiền bối đi trước. Ông nghĩ sao?

- GS Nguyễn Anh Trí: Tôi đã lớn tuổi nhưng các hoạt động của tôi - từ công tác quản lý khi tôi làm Viện trưởng Viện huyết học - Truyền máu Trung ương, tới công tác chuyên môn, nghiên cứu khoa học, hay công tác xã hội, hiến máu nhân đạo – luôn gắn với thế hệ trẻ. Tôi hiểu họ và nhận thấy thế hệ trẻ hết sức tuyệt vời, nhiều bạn rất giỏi.

Tuy nhiên, có một điểm khiến mọi người dễ bị nhầm: Thế hệ trẻ ngày nay phân hoá thành hai thái cực rõ hơn trước đây. Có những em chăm chỉ, quyết tâm thì họ quyết tâm ghê lắm, đạt được những thành tựu to lớn. Bên cạnh đó, cũng có một nhóm các em “sinh ra đã ở vạch đích”, đủ điều kiện quá nên họ hưởng thụ nhiều hơn, không chú trọng vào việc phấn đấu. Xét về từng cá nhân, có lúc mình bực bội, thậm chí có trường hợp mình phẫn nộ. Nhưng xét trên bình diện toàn xã hội thì đó là điều bình thường.

Thực tế, ngay cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ khi tôi còn là thiếu niên, tôi cũng nhận thức được đâu đó xung quanh mình, có những người họ không cố gắng, không phấn đấu. Nhưng khi ấy, phải đến 99% người ta đam mê, phấn đấu, quyết tâm để làm việc, cống hiến cho đất nước. Còn bây giờ, tỷ lệ này không phải là 1-2% mà là 10-20% nên dễ có sự nhìn nhận nhầm. Nhưng nếu đánh giá thế hệ trẻ ngày nay không vì đất nước, thế hệ trẻ bây giờ thiếu quyết tâm là phiến diện. Tôi rất yên tâm đối với thế hệ trẻ Việt Nam.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version2_02.jpg

Điều tôi mong mỏi nhất là thế hệ trẻ phải biết phát huy tinh thần ham học, ham đóng góp, ham cống hiến – truyền thống của dân tộc Việt Nam. Thế hệ trước đây là thế hệ hi sinh, bảo vệ đất nước, xác định rõ kẻ thù là Pháp, Mỹ… Tất cả những gì các thầy chúng tôi làm và chúng tôi kế cận là hoà vào dòng chảy chung của dân tộc, chiến thắng kẻ thù, thống nhất và xây dựng đất nước sau chiến tranh. Bây giờ, bảo các bạn trẻ cứ cống hiến mà không nghĩ tới lợi ích kinh tế như thế hệ đi trước có được không? Tôi cho rằng nói thì được, nhưng trên thực tế không diễn ra được như thế. Nó sẽ hạn chế, đè nén sự phát triển kinh tế của đất nước.

Kẻ thù bây giờ đã khác, kẻ thù giờ là nghèo nàn, là lạc hậu. Chúng ta phải chống nghèo nàn, và việc cá nhân trở nên giàu có là một mệnh lệnh; và việc phải trở thành con người tiến bộ, hiện đại cũng là mệnh lệnh. Giới trẻ phải nhận thức rõ, lĩnh hội và làm cho được: Cá nhân mình giàu có, gia đình mình giàu có, dòng họ mình giàu có, chính là đóng góp cho đất nước, làm cho đất nước giàu có.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version2_04.jpg

- Trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học của mình, có đóng góp gì mà ông cảm thấy tự hào?

- GS Nguyễn Anh Trí: Tôi có thể chia làm 3 nhóm nghiên cứu. Đầu tiên là nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị các bệnh ác tính cơ quan tạo máu. Tôi bắt tay nghiên cứu nhóm này từ rất sớm, từ lúc tôi là bác sĩ nội trú tại Đại học Y Hà Nội. Tôi tập trung vào nghiên cứu các hướng, diễn biến của bệnh suy tuỷ xương thành Lơ xê mi cấp – một bệnh lý cuối cùng, ác tính nhất của cơ quan tạo máu. Từ đó, tôi mở rộng nghiên cứu ra với các nhóm bệnh lý của cơ quan tạo máu khác như: Hội chứng rối loạn sinh tuỷ, ung thư hạch, đa u tuỷ xương… Sau này, khi tôi được làm trưởng khoa, rồi làm Viện trưởng Viện huyết học - Truyền máu Trung ương, tất cả các nghiên cứu của tôi đã được nở rộ hơn ở nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng vào thực tiễn cứu sống được rất nhiều người bệnh.

Nhóm thứ 2 là nghiên cứu về tế bào gốc. Trên thế giới đã xuất hiện nghiên cứu này từ mấy chục năm, còn ở Việt Nam, người tổ chức ghép tế bào gốc đầu tiên là PGS.TS Trần Văn Bé - Trung tâm Truyền máu Huyết học TP.HCM từ năm 1996. Sau 10 năm, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương mới ghép tế bào gốc cho bệnh nhân đầu tiên.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version2_06.jpg

Với đội ngũ các nhà khoa học trẻ, say mê, quyết tâm của Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, chúng tôi tập trung nghiên cứu về tế bào gốc một cách bài bản, quy củ, khoa học, cập nhật hơn. Chúng tôi nghiên cứu tất cả mọi lĩnh vực. Thứ nhất là nguồn tạo ra tế bào gốc bao gồm cả lấy máu ngoại vi, kể cả tuỷ xương, một nhóm rất lớn là tế bào gốc máu dây rốn. Chúng tôi cũng tìm ra những cách để lưu trữ thế bào gốc tốt nhất, hợp lý nhất, rẻ nhất, giúp bệnh nhân có thể “chịu đựng” được. Chúng tôi đưa vào Việt Nam nhiều phác đồ điều trị tế bào gốc cho bệnh nhân bị bệnh máu. Chi phí ghép tế bào gốc của Việt Nam rẻ chỉ bằng 50%, có trường hợp chỉ bằng 40% so với Singapore, hoặc Pháp, Mỹ.

Chính vì vậy, dù bắt đầu từ năm 2006, nhưng tới giờ, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương đã ghép được gần 800 ca trong tổng số khoảng 1300 ca của cả nước; cứu sống được 70% bệnh nhân, lành bền vững được khoảng hơn 30% các trường hợp ghép tế bào gốc.

Nhóm thứ 3, một thành tựu lớn là chúng tôi đã hoàn thiện được quy trình vận động hiến máu, tiếp nhận máu, sản xuất các chế phẩm máu, sàng lọc các bệnh lây qua đường truyền máu. Khi tôi làm Viện trưởng, Viện đã tạo được 9 loại chế phẩm máu từ máu toàn phần, phục vụ cho từng loại bệnh khác nhau, tiết kiệm được máu để truyền cho bệnh nhân. Với thành công ở 3 nhóm kể trên, chúng tôi đã được trao Giải Nhất Nhân tài Đất Việt và Giải thưởng Hồ Chí Minh.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version2_08.jpg

- Trong thực tiễn tác nghiệp và làm công tác từ thiện tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, phóng viên nhận thấy có nhiều hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở vùng sâu vùng xa, có người kinh tế kiệt quệ. Khi làm công tác quản lý, ông đã có giải pháp gì để giúp họ có thêm điểm tựa niềm tin chữa bệnh?

- GS Nguyễn Anh Trí: Với máu dành cho người nghèo, điều quan trọng nhất là phải được bảo hiểm y tế chi trả. Trong thời kỳ tôi làm Viện trưởng, chúng tôi đã tìm cách thuyết phục bảo hiểm y tế đồng ý thanh toán các sản phẩm về máu, chế phẩm máu, giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập trung bình được thụ hưởng. Trước đó, họ phải bỏ tiền ra mua, chi phí rất tốn kém.

Còn với những người ở vùng sâu vùng xa, và cả ở biên giới, hải đảo, đây là vấn đề cực kỳ khó khăn, nhưng giải quyết được thì lại trở thành cực kỳ thú vị. Sơ bộ thì ở Việt Nam, chúng ta có khoảng 3 nghìn điểm được gọi là vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo… làm sao đưa máu tới đó được? Đây là câu hỏi khó! Nếu đưa máu ra đó gửi, mỗi nơi như thế cần 1 tủ lạnh, thì cũng phải cần hơn 3 nghìn tủ lạnh. Chưa kể tới nhiều dụng cụ đi kèm mới có thể truyền máu được.

Trong rất nhiều lần đi tới các đảo để tìm hiểu giải pháp, một lần khi tới Côn Đảo, khi đang họp thì trong đầu tôi loé lên một suy nghĩ: Máu nên được giữ ngay trong chính cơ thể người. Vậy điều cần làm là xây dựng lực lượng hiến máu dự bị. Nhưng phải thực chất, hiệu quả, bền vững. Ba tính từ này tôi đã suy nghĩ mất 10 năm mới ra.

Cuối cùng, chúng tôi cũng đã xây dựng được một hệ thống như vậy. Đó là chỉ chọn những người sẵn lòng hiến máu có nhóm máu O, không bị các bệnh lây qua đường truyền máu… thì chính họ lưu giữ máu ngay trong cơ thể. Chúng tôi thường xuyên kiểm tra sức khoẻ cho họ, 6 tháng/lần, sau đó họ vẫn sinh hoạt, làm việc bình thường, ai nghề đó, công nhân, bộ đội, đánh cá, nông dân làm vườn… Nhưng khi có sự việc cần truyền máu, báo cho họ thì chỉ sau 8 phút là họ đã tới. Lấy máu tươi truyền ngay cho người bệnh.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version2_10.jpg

Để lực lượng hiến máu dự bị thực chất, hiệu quả, bền vững, mỗi đảo tôi thành lập một CLB người hiến máu tình nguyện. Người ta tính, chỉ cần lượng máu tiếp nhận được bằng 2% dân số là đủ máu dùng. Ví dụ đảo ấy có 1.000 người, chỉ cần có 200 người đăng ký hiến máu và chọn ra 20 người trong số đó luôn sẵn sàng hiến máu là được. “Ngân hàng máu sống” được thiết lập thành công, tôi rất mừng, giải quyết được sự bế tắc trong bao năm.

Trước đây mổ mà không có máu thì không ai dám mổ. Bác sĩ có, phòng mổ có, phương tiện đủ, nhưng không dám mổ bởi lỡ bị chảy máu thì vô cùng nguy hiểm. Bây giờ, ở các hải đảo đều có thể mổ được hết. Đồng bào đánh cá bị tai nạn, họ đến ngay cơ sở quân y ngoài đảo để điều trị, có thể đó là ca mổ dạ dày hay gãy xương… “Ngân hàng máu sống” được Tổ chức y tế thế giới (WHO) ca ngợi, coi như một điểm sáng và họ đã sang Việt Nam học tập cách tổ chức dịch vụ truyền máu. Với thành tích này, cá nhân tôi và cả tập thể Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương cũng đều được phong Anh hùng Lao động.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version2_12.jpg

- Trở lại quá khứ, trong rất nhiều ngành học, vì sao ông lại chọn chuyên ngành huyết học, truyền máu Đại học Y Hà Nội?

- GS Nguyễn Anh Trí: Đầu tiên phải nhìn nhận là tôi rất hợp với nghề y, có lẽ điều đó được thừa hưởng gen từ ba. Ba của tôi là bộ đội trong kháng chiến, là thương binh, sau này trở về ba tôi tham gia làm y tế trong ngành lâm nghiệp Quảng Bình đi khắp nơi phát thuốc, chữa bệnh.

Gia đình tôi có 7 anh chị em, ba đi công tác suốt, mẹ tôi, một người nông dân thuần tuý, đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn để nuôi anh chị em chúng tôi khôn lớn, cho học hành tới nơi tới chốn, vun đắp ước mơ cho chúng tôi qua những tình yêu làng mạc, xóm thôn, bà con chòm xóm và cả điệu Hò khoan Lệ Thuỷ ngọt ngào. Anh trai trên tôi tên là Nguyễn Văn Tài, học cũng rất giỏi, đi bộ đội đánh giặc cũng giỏi, là Thiếu tướng, Giáo sư, Phó giám đốc Học viện chính trị cho tới khi về hưu. Tôi được ảnh hưởng rất lớn từ anh Tài nên quyết tâm thi đỗ trường Đại học Y Hà Nội danh tiếng và quyết tâm học tốt để xứng đáng với anh, xứng đáng với những gì ba mẹ đã nuôi dạy.

Trong quá trình học tập, ngay từ năm thứ 3, thứ 4, tôi đã thường xuyên phụ mổ cho các thầy, năng lực lâm sàng rất khá. Đặc biệt, tôi được trời phú cho khả năng thức khuya rất tốt, có thể thức liền 3 ngày đêm mà không mệt mỏi, vẫn học tập, trực ca như bình thường. Khi trực cùng các bạn, tôi cứ để các bạn ngủ, có việc gì thầy gọi là mình làm. Tới năm thứ 5, các bạn thấy tôi có kiến thức tốt, tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, miệt mài nên khuyên đi một chuyên khoa có cả xét nghiệm, có cả lâm sàng. Tôi cũng nhận thấy điều đó đúng!

Đến kỳ thi bác sĩ nội trú, tôi nhớ cả khoá có khoảng 480 người thì chỉ có 31 người đỗ, trong đó có tôi. Lập tức, tôi chọn cả 3 nguyện vọng đều là huyết học, truyền máu. Lý do là chuyên ngành này có cả lâm sàng, có cả labo và sau này còn có cả hoạt động cộng đồng, xã hội, rất phù hợp với tác phong, phẩm chất của tôi. Tôi cảm thấy mình gặp may vì đã chọn đúng chuyên khoa, có một môi trường tốt để được đóng góp, được cống hiến.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version3_02.jpg
gs-nguyen-anh-tri-pc-version3_04.jpg

- Một điểm khá đặc biệt là ngoài công tác quản lý, nghiên cứu khoa học, ông còn làm thơ, sáng tác nhạc. Một lần nữa, có cảm giác như tất cả các hoạt động ấy lại bổ trợ, hoà quyện vào nhau trong ông; như tình yêu gia đình, quê hương, đất nước làm nên sự nghiệp của GS.AHLĐ Nguyễn Anh Trí?

- GS Nguyễn Anh Trí: Về mặt quản lý, ngành y chúng tôi liên quan tới khoa học kỹ thuật rất nhiều. Nói gì thì nói, trước hết bác sĩ phải giỏi tay nghề. Khi đã có uy tín, có chuyên môn tốt thì anh làm quản lý, lãnh đạo rất dễ.

Vậy làm chuyên môn, làm quản lý, rồi lại sáng tác nhạc, thơ, có liên quan, bổ trợ nhau, có gần nhau không? Có người họ làm được bài thơ hay nên đêm ấy họ thức khuya được. Có người làm được bài hát hay nên họ hưng phấn, làm việc tốt hơn. Với riêng tôi, tôi cảm thấy điều đó rất tuyệt vời; thơ, nhạc làm mình phấn chấn hơn, yêu công việc hơn, làm việc hiệu quả hơn.

gs-nguyen-anh-tri-pc-version3_06.jpg

Còn nếu đặt vấn đề sáng tạc nhạc, thơ, có ảnh hưởng về mặt thời gian không? Tôi khẳng định là không ảnh hưởng nhiều thời gian. Vì người ta không tính thước đo của một bài thơ, một bản nhạc bằng thời gian. Hầu hết các bài thơ được làm trên máy bay, trên ô tô, trên đường đi; chứ không phải dự định “tối nay ngồi làm bài thơ nhé”, thì làm thế nào được! Có khi anh ngồi 3 ngày thậm chí 3 tháng không ra được một bài thơ. Nhưng có khi chỉ cần 30 phút có thể sáng tác được một bài hát.

Trong dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9, tôi có bài hát “Vinh quang ơi Việt Nam” được phát đi phát lại 4 lần trên VTV1 và VTV3. Bài hát này tôi thai nghén độ 4 năm, tôi sáng tác nhiều lần, xoá đi làm lại mãi không thành. Tuy nhiên, ý nghĩ nung nấu phải sáng tác một bài hát ca ngợi đất nước luôn tồn tại trong suy nghĩ của tôi. Đến một hôm, tôi đi từ bàn làm việc qua giá sách, tôi cầm quyển sách thì tự nhiên giai điệu vang lên. Và chỉ trong 15 phút tôi sáng tác xong bài hát “Vinh quang ơi Việt Nam”. Bài hát chỉ có 6 câu thôi, nhưng được nhiều anh em ca sĩ, nhạc sĩ đánh giá là “Hay lắm!”

- Xin cảm ơn ông đã dành nhiều thời gian trò chuyện cùng “Cà phê Một Thế Giới”. Xin chúc ông mạnh khoẻ để tiếp tục có nhiều đóng góp trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước!

gs-nguyen-anh-tri-pc-version3_08.jpg

Lê Minh Đức