Chuyển nhượng 1 triệu tấn CO2, Việt Nam đột phá ở thị trường carbon
Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để trở thành một trong những điểm sáng trên thị trường carbon quốc tế khi có thể thu về hàng trăm triệu USD từ việc trao đổi tín chỉ carbon và giảm phát thải.

Cuối tháng 8 vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 261/NQ-CP ngày 29.8.2025 về việc chuyển nhượng lượng giảm phát thải khí nhà kính còn dư thuộc vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2018 - 2019. Nghị quyết đồng ý chủ trương chuyển nhượng 1 triệu tấn CO2 giảm phát thải từ rừng trồng khu vực Bắc Trung Bộ cho Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD), thành viên của Tập đoàn Ngân hàng Thế giới.
Thương vụ này, dù chỉ trị giá khoảng 5 triệu USD với mức giá 5 USD/tấn CO2, lại mang ý nghĩa chiến lược sâu xa. Đây là một phần trong tổng số 5,9 triệu tấn CO2 giảm phát thải dư thừa sau khi Việt Nam hoàn thành giai đoạn đầu tiên của Thỏa thuận Thanh toán Giảm phát thải, đã mang về 51,5 triệu USD doanh thu. Điều quan trọng là khoảng 95% tín chỉ này sẽ được trả lại Việt Nam để hỗ trợ thực hiện các Đóng góp Tự quyết định Quốc gia (NDCs), cam kết giảm khí nhà kính mà nước ta đệ trình lên Liên Hợp Quốc theo Thỏa thuận Paris.
Tiềm năng khổng lồ đang chờ khai thác
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị khẳng định đây chỉ là khởi đầu của một hành trình dài. Ông cho biết các tính toán cho thấy Việt Nam có thể bán thêm khoảng 40 triệu tín chỉ nữa. Với mức giá 5 USD/đơn vị, con số này có thể mang về 200 triệu USD, tương đương với đầu tư công hàng năm của nhiều ngành. Tuy nhiên, con số này còn lớn hơn nhiều sau khi lập mô hình với 9 kịch bản khác nhau - các chuyên gia tại Green Climate Innovation (GreenCIC) nhận định.
Nghiên cứu của GreenCIC, được trình bày tại hội thảo tham vấn do Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Đông Nam Á phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức vào ngày 20.8, đã vẽ nên bức tranh tương lai đầy hứa hẹn.
Nếu Việt Nam áp dụng kịch bản 56 biện pháp giảm thiểu (S56*) với tỷ lệ giữ lại 50%, nền kinh tế có thể tăng trưởng trung bình 0,43% GDP hằng năm trong giai đoạn 2025 - 2030. Con số này, tương đương hàng tỉ USD, sẽ thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng và tạo việc làm.
Cân bằng giữa lợi ích kinh tế và cam kết môi trường
Ông Hồ Công Hòa, đại diện Học viện Chính sách và Phát triển, đã đưa ra những con số ấn tượng về nhu cầu tín chỉ carbon. Theo ông Hòa, tổng nhu cầu tín chỉ carbon của các nước đối tác được dự báo là 444,6 triệu tấn CO2 trong giai đoạn 2025 - 2030. Trong kịch bản S20** với giới hạn giao dịch 90%, Việt Nam chỉ có thể cung cấp 26,6 triệu tín chỉ, đáp ứng khoảng 6% nhu cầu dự kiến. Nhưng trong kịch bản S56, khả năng đáp ứng nhu cầu có thể lên tới 100% nếu áp dụng giới hạn giao dịch 70%.
Ở đây cần lưu ý, số biện pháp càng nhiều thì lượng tín chỉ carbon có thể tạo ra càng lớn, vì mỗi biện pháp (ví dụ: trồng rừng, chuyển đổi năng lượng, tiết kiệm điện, xử lý chất thải…) đều giúp giảm một lượng CO2.
(*) S56: Là mở rộng hơn, cho phép 56 biện pháp tham gia.
(**) S20: Nghĩa là chỉ chọn 20 biện pháp giảm nhẹ khí nhà kính trong số các biện pháp Việt Nam đã cam kết trong NDC để tham gia thị trường tín chỉ carbon.
Giới hạn giao dịch (trần giao dịch) và tỷ lệ giữ lại
Trần giao dịch 90% trong S20: Nghĩa là Việt Nam chỉ được phép bán tối đa 90% số tín chỉ tạo ra từ 20 biện pháp này, còn ít nhất 10% phải giữ lại để phục vụ mục tiêu giảm phát thải trong nước.
Tỷ lệ giữ lại 50% trong S56: Trong kịch bản 56 biện pháp, Việt Nam giữ lại 50% số tín chỉ để đảm bảo mục tiêu quốc gia, chỉ đem phần còn lại ra thị trường.
Tỷ lệ lợi nhuận cũng vô cùng hấp dẫn. Với giới hạn giao dịch 70 - 90%, tỷ lệ này là 0,95 - tức cứ 1 USD chi phí đầu tư, doanh nghiệp sẽ thu về 95 cent lợi nhuận. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa lựa chọn trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện trách nhiệm xã hội đối với vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, thành công của thị trường carbon Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào tiềm năng mà còn vào khả năng cân bằng giữa lợi ích kinh tế và cam kết môi trường.
PGS-TS Nguyễn Đình Thọ, Phó viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh rằng tham vọng Net Zero (phát thải ròng bằng 0) của Việt Nam thậm chí còn tham vọng hơn nhiều nền kinh tế đang phát triển khác cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam.
Thách thức tài chính và giải pháp bền vững
Theo NDCs cập nhật năm 2022, Việt Nam cam kết giảm 15,8% phát thải trong kịch bản thông thường, với tiềm năng nâng lên 43,5% nếu có hỗ trợ quốc tế. Với mức phát thải dự kiến hơn 900 triệu tấn khí nhà kính trong kịch bản phát thải thông thường, việc giảm xuống chỉ còn 45 triệu tấn CO2 đòi hỏi nguồn tài chính khổng lồ.
PGS-TS Nguyễn Đình Thọ nhận định điều này cho thấy rõ rằng việc thực hiện NDCs không thể đạt được nếu không có các giải pháp tài chính cụ thể. Nếu không huy động được các nguồn lực như vậy, các cam kết sẽ khó thực hiện. Do đó, thị trường carbon được coi là một trong những công cụ quan trọng để đáp ứng những cam kết này.
Để tận dụng tối đa cơ hội này, các chuyên gia khuyến nghị Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng năng lực trong nước về nghiên cứu, đánh giá và phát hành tín chỉ carbon theo tiêu chuẩn quốc tế, thay vì phụ thuộc vào các tổ chức bên ngoài. Điều này không chỉ giúp tăng giá trị thu được từ mỗi tín chỉ carbon mà còn đảm bảo chủ quyền trong việc phát triển thị trường carbon quốc gia.
Hướng tới tương lai xanh và thịnh vượng
Thành công của chương trình tín chỉ carbon không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn tạo ra tác động xã hội tích cực. Nguồn thu từ giao dịch carbon sẽ được phân bổ cho các chủ rừng, chính quyền xã địa phương và các tổ chức quản lý rừng tự nhiên tại các tỉnh tham gia chương trình như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị và Huế. Một phần cũng sẽ hỗ trợ các nhóm tham gia bảo vệ rừng, sinh kế bền vững và cải thiện thu nhập cho cộng đồng địa phương.
Với tiềm năng thu về hàng trăm triệu USD từ thị trường carbon quốc tế, Việt Nam không chỉ có cơ hội trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về giao dịch tín chỉ carbon trong khu vực mà còn tạo ra mô hình phát triển bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
Đây chính là con đường để Việt Nam thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050 một cách thiết thực và hiệu quả, đồng thời mở ra kỷ nguyên mới trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu.


