Công nghệ xanh

Hành trình loại bỏ 240 triệu tấn CO₂ tương đương của Việt Nam

Bùi Tú 15/09/2025 20:04

Ngày 15.9, tại hội thảo kỷ niệm Ngày Quốc tế bảo vệ Tầng ozone 2025, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành công bố trong 3 thập kỷ qua, Việt Nam đã loại bỏ tới 240 triệu tấn CO₂ tương đương thông qua việc quản lý và loại bỏ các chất làm suy giảm tầng ozone.

botainguyen.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành chia sẻ về quá trình Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal - Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Thứ trưởng Lê Công Thành nhấn mạnh kết quả này chứng minh Việt Nam đang đi đúng hướng trong việc thực hiện Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal, đồng thời tích cực hợp tác với cộng đồng quốc tế.

Hành trình 31 năm từ cam kết đến hành động cụ thể

Câu chuyện thành công này bắt đầu từ năm 1994, khi Việt Nam chính thức tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal. Lúc đó, đất nước ta còn đang trong giai đoạn phát triển, nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng các chất gây hại cho tầng ozone như CFC, Halon, hay các hợp chất HCFC trong sản xuất.

Với sự hỗ trợ từ Quỹ Đa phương thực hiện Nghị định thư Montreal, Ngân hàng Thế giới, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc và các đối tác khác, Việt Nam đã từng bước loại bỏ thành công các chất độc hại này.

Đến năm 2010, nước ta hoàn toàn loại bỏ CFC, Halon và CTC. Tiếp theo, năm 2015 đánh dấu việc ngừng sử dụng HCFC-141b tinh khiết trong sản xuất xốp. Hiện tại, methyl bromide chỉ được sử dụng cho mục đích kiểm dịch nông nghiệp.

Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu Lê Ngọc Tuấn cho biết những hành động này không chỉ giúp bảo vệ tầng ozone mà còn góp phần cắt giảm đáng kể lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Điều đặc biệt là các nỗ lực bảo vệ ozone đã được thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường 2020 cùng với hàng loạt nghị định, thông tư và tiêu chuẩn kỹ thuật.

lengoctuan.jpg
Ông Lê Ngọc Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu chia sẻ về nội dung bảo vệ tầng ô-dôn trong Luật Bảo vệ môi trường - Ảnh: Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Không dừng lại ở thành tích đã đạt được, Việt Nam đã đặt ra mục tiêu còn tham vọng hơn. Theo kế hoạch quốc gia về quản lý và loại bỏ các chất làm suy giảm tầng ozone, đến năm 2045, Việt Nam sẽ trực tiếp giảm thêm khoảng 11,2 triệu tấn CO₂ tương đương.

Điều đáng chú ý là Việt Nam không chỉ dừng ở con số này mà còn đang triển khai các biện pháp bổ sung như chuyển đổi sang các chất có tiềm năng làm nóng Trái đất thấp hoặc bằng 0, cải thiện quản lý vòng đời thông qua thu gom và tái chế, cùng với việc thúc đẩy làm mát bền vững. Những nỗ lực này hoàn toàn có thể giúp Việt Nam đạt được mức cắt giảm sâu hơn và tiến gần hơn đến mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Cuộc cách mạng trong ngành làm lạnh

Một trong những điểm sáng đáng chú ý nhất của Việt Nam là việc xây dựng chương trình làm mát xanh quốc gia dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

John Robert Cotton, Phó Giám đốc Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Đông Nam Á, cho biết chương trình này tập trung vào việc cải thiện hiệu quả năng lượng, tăng cường hệ thống chuỗi lạnh và thúc đẩy làm mát thụ động thông qua thiết kế thích ứng khí hậu cùng các giải pháp dựa trên thiên nhiên.

Đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam, việc tăng cường hệ thống chuỗi lạnh không chỉ giúp bảo quản tốt hơn nông sản mà còn góp phần giảm thiểu lãng phí thực phẩm. Làm mát thụ động thông qua thiết kế thông minh và sử dụng các giải pháp từ thiên nhiên đang trở thành xu hướng mới, giúp giảm đáng kể mức tiêu thụ năng lượng so với các phương pháp làm mát truyền thống.

Nền tảng thành công của Việt Nam đến từ việc xây dựng khung pháp lý đồng bộ và hiện đại. Luật Bảo vệ môi trường 2020 cùng với loạt nghị định, thông tư và tiêu chuẩn kỹ thuật đã tạo nên một hệ thống quản lý chặt chẽ. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP vừa được ban hành nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và đảm bảo quản lý an toàn các chất được kiểm soát.

Khung pháp lý này đã giúp Việt Nam kết nối hiệu quả việc kiểm soát các chất làm suy giảm ozone với Đóng góp do quốc gia tự quyết định, đồng thời tạo cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon và tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế. Điều này không chỉ mang lại lợi ích môi trường mà còn tạo ra các cơ hội kinh tế mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế nói chung.

Hợp tác quốc tế mở đường cho thành công

Tina Chondraki Birmpili, Trưởng ban Điều hành Quỹ Đa phương thực hiện Nghị định thư Montreal, đã ca ngợi Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện hiệu quả nhất các cam kết quốc tế. Bà mô tả Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal là một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong hợp tác môi trường toàn cầu, không chỉ loại bỏ hiệu quả các chất làm suy giảm ozone mà còn kiểm soát HFC theo Bản sửa đổi Kigali.

Nghị định thư này cũng đã đóng góp đáng kể vào việc làm chậm quá trình nóng lên toàn cầu, bà Birmpili nhấn mạnh. Quỹ đã hỗ trợ khoảng 90 dự án tại Việt Nam với kế hoạch hoàn thành vào năm 2026, cho thấy sự cam kết lâu dài của cộng đồng quốc tế trong việc hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục tiêu môi trường.

Câu chuyện của Việt Nam cho thấy rằng bảo vệ tầng ozone không chỉ là việc của riêng ngành môi trường mà còn góp phần quan trọng vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Việc loại bỏ các chất ODS không chỉ giúp "vá" lỗ thủng tầng ozone mà còn giảm đáng kể lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Với nền tảng kinh nghiệm 31 năm thực hiện cam kết quốc tế, Việt Nam đang tự tin bước vào giai đoạn mới hướng tới mục tiêu Net Zero 2050. Những thành công trong việc quản lý các chất làm suy giảm ozone đang trở thành "bàn đạp" quan trọng giúp đất nước ta đạt được tham vọng lớn hơn trong tương lai.

Mô hình thành công của Việt Nam đang trở thành nghiên cứu điển hình cho các nước đang phát triển khác trong khu vực. Việc kết hợp giữa cam kết chính trị mạnh mẽ, khung pháp lý đồng bộ, hợp tác quốc tế hiệu quả và sự tham gia tích cực của doanh nghiệp đã tạo nên một "công thức thành công" có thể nhân rộng.

Đặc biệt, cách tiếp cận tích hợp của Việt Nam vừa bảo vệ tầng ozone, vừa chống biến đổi khí hậu, vừa thúc đẩy chuyển đổi xanh đang được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và có thể trở thành hướng dẫn cho các quốc gia khác. Con số 240 triệu tấn CO₂ tương đương mà Việt Nam đã loại bỏ không chỉ là thành tích quá khứ mà còn là nền tảng vững chắc cho hành trình hướng tới tương lai xanh, sạch và bền vững.

CO₂ tương đương (CO₂e hay CO₂eq) là một đơn vị đo lường chuẩn hóa được dùng trong biến đổi khí hậu để so sánh và cộng gộp tác động gây hiệu ứng nhà kính của nhiều loại khí khác nhau về cùng một chuẩn là khí CO₂.

Bùi Tú