'Để đánh thuế vàng theo chênh lệch giá, phải xây dựng hệ thống dữ liệu'
Đó là ý kiến của TS Lê Bá Chí Nhân. Ông cho rằng trong ngắn hạn chỉ thu thuế khi giao dịch vượt ngưỡng nhất định. Còn trong dài hạn cần xây dựng hệ thống dữ liệu đầy đủ mới có thể đánh thuế theo chênh lệch giá.
Chính phủ yêu cầu Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) phải quy định rõ thu nhập từ giao dịch mua bán vàng thuộc đối tượng chịu thuế. Quy định này nhằm tăng tính minh bạch và hạn chế đầu cơ vàng. Bộ Tài chính được giao phối hợp với Ngân hàng Nhà nước thống nhất nội dung này trong dự thảo luật.
Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế, TS Lê Bá Chí Nhân xoay quanh vấn đề này.
Trong phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 9.2025, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 278, trong đó yêu cầu bổ sung quy định thu nhập từ hoạt động mua bán vàng thuộc diện chịu thuế TNCN. Ông nhìn nhận thế nào về đề xuất này?
- TS Lê Bá Chí Nhân: Đề xuất đưa thu nhập từ hoạt động mua bán vàng (vàng miếng, vàng trang sức, vàng tài khoản…) vào diện chịu thuế TNCN là một động thái đáng chú ý.
Về lý thuyết, điều này nhằm bảo đảm công bằng thuế. Hiện nay thu nhập từ kinh doanh chứng khoán, bất động sản, trúng thưởng… đều đã chịu thuế TNCN; trong khi thu nhập từ kinh doanh vàng (một dạng đầu tư, đầu cơ tài sản) chưa phải chịu. Việc bổ sung sẽ làm hệ thống thuế công bằng hơn, tránh việc người đầu tư vàng được “ưu tiên” so với người đầu tư kênh khác.

Ngoài ra, việc này còn giúp mở rộng cơ sở thuế. Nhà nước có thêm nguồn thu ngân sách, đặc biệt trong bối cảnh giá vàng biến động mạnh, nhiều cá nhân giao dịch với giá trị lớn.
Dù vậy, thị trường vàng miếng, vàng trang sức hiện nay chủ yếu giao dịch tiền mặt, chưa có hệ thống theo dõi điện tử đồng bộ. Việc thu thuế đòi hỏi cơ chế ghi nhận, báo cáo giao dịch và chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp kinh doanh vàng - cơ quan thuế.
Nếu cách tính thuế quá phức tạp hoặc mức thuế cao, người dân có thể chuyển sang giao dịch không chính thức để tránh thuế. Điều này dẫn đến nguy cơ tạo thị trường “chợ đen”.
Hơn nữa, việc đánh thuế cũng có thể khiến một số người có thể giảm đầu tư vàng, chuyển vốn sang kênh khác như chứng khoán, gửi tiết kiệm. Điều này có thể có lợi nếu Nhà nước muốn hạn chế “vàng hóa” nền kinh tế.
Tuy nhiên, cần làm rõ cách xác định thu nhập tính thuế là chênh lệch giá mua - bán, hay áp thuế theo tỷ lệ trên doanh số? Cơ chế khai báo là tự khai - tự nộp hay khấu trừ tại nguồn? Ngoài ra, nên có mức thuế suất, ngưỡng miễn trừ để không đánh vào các giao dịch nhỏ lẻ.
Tôi cho rằng đây là bước đi phù hợp về nguyên tắc công bằng thuế, nhưng triển khai cần thận trọng, đồng bộ với số hóa giao dịch vàng. Nếu không chuẩn bị tốt, quy định có thể khó thực thi hoặc tạo thêm chi phí tuân thủ cho cả người dân và doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy nhiều người vẫn mua vàng tại các tiệm nhỏ lẻ, không có hóa đơn hay chứng từ đầy đủ. Thậm chí, nhiều trường hợp vàng được mua từ rất lâu trước đây, đến nay mới đem bán. Người dân băn khoăn cơ quản quản lý xác định giá vốn hay lợi nhuận để tính thuế thế nào?
- TS Lê Bá Chí Nhân: Đây cũng là một thực tế. Nhiều giao dịch vàng ở Việt Nam là tại các tiệm nhỏ lẻ, không có hóa đơn đầy đủ hoặc không lưu trữ lâu dài, nên nếu đánh thuế TNCN trên phần chênh lệch giá mua - giá bán thì sẽ nảy sinh nhiều vướng mắc.
Việc người dân mua vàng không lấy hóa đơn, hoặc hóa đơn không lưu giữ sau nhiều năm sẽ không chứng minh được giá vốn. Vàng cất giữ lâu dài (5 - 10 năm) với giá rất khác, việc xác định lãi/lỗ khi bán gần như bất khả thi.
Chưa kể, giá vàng chịu tác động tỷ giá, chính sách, nên việc áp dụng “giá vốn chuẩn” của nhà nước cũng khó chính xác cho từng cá nhân.
Nếu buộc người bán phải chứng minh giá vốn, sẽ gây phiền hà, tăng chi phí tuân thủ cho người dân, đồng thời có nguy cơ làm giảm tính minh bạch (người dân né khai để tránh thuế).
Theo ông, cách đánh thuế nào thì phù hợp?
- TS Lê Bá Chí Nhân: Chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đề xuất cách phù hợp với thực tế Việt Nam.
Phương án 1: Đánh thuế theo tỷ lệ cố định trên giá trị giao dịch. Ví dụ thu thuế TNCN 0,1 - 0,5% trên tổng trị giá bán vàng.

Phương án này có ưu điểm là đơn giản, không cần xác định giá vốn, dễ quản lý. Nhưng nhược điểm là bất công với người đang lỗ (mua cao, bán thấp vẫn chịu thuế).
Phương án 2: Đánh thuế trên chênh lệch giá mua - bán nhưng cho phép áp dụng giá vốn chuẩn. Nhà nước công bố “giá vốn chuẩn” theo từng giai đoạn (ví dụ giá vàng bình quân từng năm).
Người bán có thể xuất trình hóa đơn để chứng minh giá vốn thực tế. Nếu không có hóa đơn, áp dụng giá vốn chuẩn để tính lợi nhuận.
Ưu điểm là tương đối công bằng, phản ánh lợi nhuận thực. Nhưng nhược điểm là cần cơ sở dữ liệu giá chuẩn đáng tin cậy, tăng thủ tục khai báo.
Phương án 3: Chỉ đánh thuế với giao dịch lớn. Miễn hoặc giảm thuế với giao dịch nhỏ (ví dụ dưới 50 triệu đồng/năm). Điều này nhằm tập trung quản lý giao dịch vàng miếng khối lượng lớn, hạn chế đầu cơ, giảm gánh nặng cho người dân chỉ bán vàng để tiêu dùng.
Theo tôi, để đảm bảo dễ thực thi - công bằng - tránh thất thu, trong ngắn hạn nên áp dụng tỷ lệ thuế khoán theo giá trị giao dịch, với mức thấp, chỉ thu khi vượt ngưỡng nhất định (ví dụ tổng trị giá bán > 100 triệu đồng/năm).
Trong trung và dài hạn cần xây dựng hệ thống hóa đơn điện tử cho vàng, yêu cầu các tiệm vàng phát hành hóa đơn để người dân dễ chứng minh giá vốn. Khi hệ thống đủ dữ liệu, mới tiến tới đánh thuế theo chênh lệch giá.
Có những ý kiến băn khoăn rằng người dân dùng thu nhập sau thuế để mua vàng mà giao dịch này bị đánh thuế thì họ sẽ bị đánh thuế 2 lần. Quan điểm của ông thế nào?
- TS Lê Bá Chí Nhân: Băn khoăn này là có cơ sở, vì về nguyên tắc, thu nhập của người dân đã chịu thuế thu nhập cá nhân (nếu thuộc diện phải nộp). Khi họ dùng phần thu nhập còn lại để mua vàng, về bản chất đó là tài sản đã “sạch thuế”.
Tuy nhiên, cần phân biệt. Thuế thu nhập cá nhân hiện hành đánh vào thu nhập, không đánh vào tăng giá tài sản.
Đề xuất mới không đánh thuế vào việc mua vàng, mà đánh vào phần chênh lệch (lợi nhuận) khi bán vàng, tức là tương tự đánh thuế lãi từ chứng khoán, lãi từ chuyển nhượng bất động sản.
Nói cách khác, nếu người dân mua vàng chỉ để cất giữ và không bán thì không phát sinh thuế. Nếu bán lỗ thì cũng không phải nộp thuế. Chỉ khi bán có lãi mới tính thuế trên phần lãi ròng, giống như đánh thuế trên “khoản thu nhập tăng thêm” chứ không phải đánh trên vốn gốc.
Điều quan trọng là cơ quan thuế phải xác định giá vốn hợp lý để người dân không bị tính thuế trên cả phần vốn gốc. Ngoài ra, có cơ chế minh bạch, đơn giản, tránh gây phiền hà khi người dân chứng minh giá mua.
Một trong những mục đích đánh thuế mua bán mua bán vàng là để hạn chế đầu cơ vàng. Theo ông, nếu chỉ dùng công cụ thuế, mục tiêu này có đạt được?
- TS Lê Bá Chí Nhân: Nếu chỉ sử dụng công cụ thuế thì rất khó đạt mục tiêu hạn chế đầu cơ vàng. Lý do, thuế làm tăng chi phí giao dịch nhưng không triệt tiêu được động cơ đầu cơ. Khi giá vàng biến động mạnh, mức lợi nhuận tiềm năng có thể cao hơn nhiều so với số thuế phải nộp. Nhà đầu cơ vẫn sẵn sàng chấp nhận thuế như một phần chi phí kinh doanh.

Nếu thuế quá cao hoặc thủ tục phức tạp, người dân có thể chuyển sang mua bán vàng “chợ đen”, không có hóa đơn chứng từ, làm giảm hiệu quả quản lý. Điều này thậm chí khiến thị trường vàng kém minh bạch hơn.
Người dân đầu cơ vàng chủ yếu vì lo ngại lạm phát, mất giá tiền đồng hoặc thiếu kênh đầu tư an toàn. Nếu các yếu tố kinh tế vĩ mô không ổn định, việc tăng thuế chỉ làm người dân tìm cách khác để trú ẩn tài sản.
Do đó, cần phối hợp nhiều giải pháp như ổn định kinh tế vĩ mô, giữ lạm phát và tỷ giá ở mức hợp lý. Phát triển kênh đầu tư thay thế (trái phiếu, chứng chỉ quỹ, bất động sản minh bạch hơn) để giảm nhu cầu nắm giữ vàng.
Song song đó, cần quản lý thị trường vàng, siết chặt hoạt động mua bán không chính thức, tăng minh bạch hóa giao dịch.
Vì vậy, thuế chỉ là một công cụ hỗ trợ. Nếu không đi kèm các biện pháp ổn định kinh tế, quản lý thị trường và cung cấp kênh đầu tư hấp dẫn, mục tiêu hạn chế đầu cơ vàng sẽ khó đạt được
Để thị trường vàng phát triển lành mạnh, theo ông, cần những công cụ, giải pháp gì?
- TS Lê Bá Chí Nhân: Để thị trường vàng phát triển lành mạnh, cần kết hợp nhiều công cụ và giải pháp đồng bộ, chứ không chỉ dựa vào thuế hay biện pháp hành chính đơn lẻ.
Theo đó, cần hoàn thiện khung pháp lý và minh bạch hóa thị trường như xây dựng hệ thống quy định rõ ràng về mua bán, lưu thông, xuất nhập khẩu vàng. Quy định bắt buộc hóa đơn, chứng từ cho các giao dịch, tạo điều kiện quản lý nguồn gốc, giá vốn. Minh bạch hóa giá niêm yết, tránh tình trạng chênh lệch giá quá lớn giữa thị trường trong nước và quốc tế.
Cần xây dựng sàn giao dịch vàng tập trung, chuẩn hóa, có giám sát của Nhà nước, giúp giảm tình trạng giao dịch chui; khuyến khích phát triển sản phẩm phái sinh, chứng chỉ vàng, hợp đồng kỳ hạn… để người dân có kênh đầu tư minh bạch thay vì tích trữ vàng vật chất.
Đặc biệt, cần kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, củng cố niềm tin vào đồng nội tệ để giảm động cơ nắm giữ vàng. Điều tiết cung cầu vàng thông qua dự trữ vàng quốc gia hoặc nhập khẩu - xuất khẩu kịp thời.
Cần áp dụng thuế ở mức hợp lý với giao dịch đầu cơ, nhưng không cản trở nhu cầu chính đáng; tăng cường kiểm tra chống rửa tiền, trốn thuế qua kênh vàng; khuyến khích người dân đa dạng hóa kênh đầu tư (chứng khoán, trái phiếu…) thay vì chỉ tích trữ vàng.
Xin cảm ơn ông!


