Vốn tín dụng cần ưu tiên cho kinh tế số, công nghệ cao thay vì chảy vào bất động sản
GS Trần Thọ Đạt nhấn mạnh trong một hội thảo gần đây: tín dụng và vốn thị trường cần ưu tiên cho công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, kinh tế số, năng lượng sạch…
Nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào vốn ngân hàng
Kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2025 tăng trưởng cao so với cùng kỳ của nhiều năm. Cầu tín dụng cải thiện rõ rệt, lạm phát trong tầm kiểm soát và giải ngân đầu tư công đã tăng tốc.
Tuy vậy, nền kinh tế cũng đối mặt với những rủi ro tích tụ từ mức độ phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, sự phục hồi nóng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và áp lực tỷ giá.
Tham luận tại một hội thảo gần đây, GS-TS Trần Thọ Đạt (Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng tín dụng/GDP đã ở mức cao (khoảng trên 130% cuối 2024). Điều này cho thấy nền kinh tế dựa nhiều vào kênh ngân hàng, khiến rủi ro chu kỳ có thể sẽ khuếch đại khi gặp cú sốc lãi suất/ngoại hối/chu kỳ bất động sản.

Ngoài ra, xu hướng nợ xấu tăng trong bối cảnh một số phân khúc bất động sản, trái phiếu còn cần thời gian tái cơ cấu (trường hợp đặc thù SCB đòi hỏi nguồn lực can thiệp đáng kể để giữ ổn định hệ thống).
Đáng chú ý, chính sách khuyến khích nhận chuyển giao ngân hàng yếu (giảm dự trữ bắt buộc, mở rộng room ngoại) là bước đi đúng, nhưng cũng đi kèm rủi ro tập trung nếu không kiểm soát được chất lượng tài sản chuyển giao và tốc độ mở rộng bảng cân đối của ngân hàng nhận sáp nhập.
Do vậy, cần có cơ chế đánh đổi rõ ràng giữa ưu đãi và nghĩa vụ (lộ trình nâng vốn, chuẩn Basel, hạn mức cổ tức, kiểm toán độc lập chuyên đề…); giám sát riêng đối với ngân hàng nhận chuyển giao.
Hạn chế tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro
Theo ông Trần Thọ Đạt, việc cân bằng giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu trung-dài hạn trong chính sách tài chính là hết sức cần thiết để đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng bền vững.
Trong ngắn hạn (phần còn lại của năm 2025) cần tập trung bảo đảm “đệm an toàn” trong khi hỗ trợ tăng trưởng.
Theo đó, cần điều hành tiền tệ theo “tam giác mục tiêu”: Kiểm soát lạm phát kỳ vọng quanh mức 4% nhằm duy trì niềm tin vào đồng nội tệ; ổn định tỷ giá theo hướng linh hoạt hai chiều, tránh cú sốc biến động lớn; duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý để hỗ trợ sản xuất, xuất khẩu.

Việc mở “room” tín dụng cần đi kèm điều kiện ràng buộc về cơ cấu danh mục, ngân hàng được nới hạn mức khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và thanh khoản (LCR) đạt chuẩn. Tỷ trọng tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên đạt tối thiểu 60 - 70% phần tăng thêm.
Ngược lại, tín dụng cho các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản đầu cơ, trái phiếu đảo nợ, chứng khoán phái sinh cần bị hạn chế bằng hệ số rủi ro cao hơn hoặc yêu cầu trích lập dự phòng bổ sung.
Song song đó, cần giám sát chặt thị trường TPDN khi hoạt động phát hành đang phục hồi mạnh; bắt buộc có xếp hạng tín nhiệm đối với trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp bất động sản và nhóm phát hành trên một ngưỡng trị giá nhất định (ví dụ 500 tỉ đồng/năm); áp dụng hệ thống cảnh báo sớm đối với trái phiếu đến hạn; đẩy nhanh xử lý tổ chức tín dụng yếu kém.
Ở dài hạn hơn, giai đoạn 5 năm tới, ông Đạt cho rằng cần đưa hệ thống tài chính Việt Nam từ chỗ phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng sang một cấu trúc cân bằng hơn, có khả năng chống chịu tốt trước các cú sốc bên ngoài (tín dụng/GDP khoảng 100 - 110%), đồng thời tăng tỷ trọng vốn từ thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các quỹ đầu tư…
Ưu tiên vốn cho công nghệ cao, R&D
Ngoài ra, GS Trần Thọ Đạt nhấn mạnh tín dụng và vốn thị trường cần ưu tiên cho công nghiệp chế biến - chế tạo công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, kinh tế số, logistics và năng lượng sạch. Các lĩnh vực này không chỉ tạo việc làm chất lượng mà còn có khả năng lan tỏa công nghệ và nâng TFP (năng suất nhân tố tổng hợp).
“Cần áp dụng ưu đãi về lãi suất, thời hạn vay hoặc bảo lãnh tín dụng đối với dự án xanh, dự án chuyển đổi số, dự án gắn với đổi mới sáng tạo; ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong thẩm định tín dụng để rút ngắn thời gian, giảm chi phí và mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”, ông Đạt nói.

Thêm nữa, một phần vốn tín dụng ưu đãi và vốn đầu tư công cần gắn với các dự án R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo và quỹ đầu tư mạo hiểm. Điều này sẽ tạo cú hích nâng cấp nền sản xuất, dịch vụ theo hướng giá trị cao.
Hiện nay tín dụng vào 5 lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp - nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao) chiếm khoảng 26 - 28% tổng dư nợ. Ông Đạt khuyến nghị nâng lên 32 - 35% vào cuối năm 2026 và duy trì tăng tối thiểu 1 điểm phần trăm/năm đến 2030.
Hiện trái phiếu xanh mới chiếm khoảng 1% tổng trị giá trái phiếu doanh nghiệp phát hành, ông Đạt đề nghị cần nâng tỷ lệ này lên khoảng 10 - 12%, với tổng dư nợ tín dụng xanh chiếm 15% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Đáng chú ý, chi R&D của Việt Nam hiện khoảng 0,5% GDP (so với mức trung bình ASEAN khoảng 1%). Đề xuất là tăng lên 1% GDP vào năm 2028 và 1,5% GDP vào 2030.
GS Trần Thọ Đạt nhấn mạnh mọi chính sách hỗ trợ tăng trưởng phải đặt trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm kỷ luật thị trường, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn.
“Việc xây dựng một hệ thống tài chính an toàn, minh bạch và đa tầng sẽ không chỉ giúp Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng GDP nhanh trong thập niên tới, mà còn củng cố niềm tin của nhà đầu tư, nâng cao vị thế quốc gia và tạo nền móng vững chắc để hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Đạt nêu.