Khuyến nông là ‘cầu nối’ đưa khoa học đến ruộng đồng
Sự hợp tác giữa khuyến nông, doanh nghiệp và nông dân sẽ hình thành hệ thống vận hành linh hoạt, giúp người dân tiếp cận công nghệ mới, áp dụng quy trình sản xuất chuẩn, truy xuất nguồn gốc, giảm chi phí đầu vào và hướng tới sản xuất xanh.
Hiện nay, An Giang đang tổ chức và vận hành vùng nguyên liệu theo Đề án 1 triệu ha chất lượng cao, giảm phát thải. Việc triển khai Đề án sẽ chỉ thành công khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa ba trụ cột: khuyến nông, doanh nghiệp và nông dân.
Trong đó, khuyến nông là cầu nối đưa khoa học đến với ruộng đồng, doanh nghiệp là đầu kéo đưa sản phẩm ra thị trường, còn nông dân là trung tâm của toàn bộ quá trình sản xuất.

Ông Trần Thanh Hiệp, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi Trường tỉnh An Giang cho rằng, nếu như trước đây, khuyến nông chủ yếu dừng ở việc “đưa cái mới về xóm, làng” như: giống mới, quy trình mới, kỹ thuật mới; thì ngày nay, được định vị lại như một dịch vụ tổng hợp, từ tư vấn sản xuất, kết nối thị trường, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ vốn... tới xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại.
Đây là bước chuyển quan trọng, đưa hoạt động khuyến nông từ vị trí “người truyền tin” trở thành “đối tác phát triển” của nông dân và doanh nghiệp.
Trong nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất chỉ là một nửa của bài toán, nửa còn lại là thị trường. Khuyến nông thị trường mà tỉnh An Giang định hướng là sự thay đổi tư duy, bắt đầu từ nhu cầu của thị trường để tổ chức sản xuất. Điều này phù hợp với bối cảnh hội nhập, khi các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận GAP, hữu cơ… trở thành “giấy thông hành” bắt buộc.
“Đáng chú ý, khuyến nông tại An Giang đã lồng ghép mạnh mẽ yếu tố công nghệ số và ứng dụng công nghệ cao. Việc đưa nông dân tiếp cận thương mại điện tử, quản lý sản xuất bằng phần mềm, kết nối tiêu thụ qua nền tảng số sẽ giúp xóa nhòa khoảng cách giữa vùng sâu, vùng xa với các trung tâm kinh tế.
Một trong những điểm mới của tỉnh An Giang là xác định khuyến nông phải theo nhu cầu, tức là xuất phát từ điều kiện, mong muốn và tiềm lực của từng nhóm nông dân, từng vùng sinh thái thay vì áp dụng một mô hình chung cho tất cả.
Đồng thời, “khuyến nông có sự tham gia” nhấn mạnh vai trò chủ động của người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp địa phương trong xây dựng và vận hành mô hình”, ông Hiệp nhận định.

Còn theo ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, địa phương đang bước sang giai đoạn phát triển nông nghiệp bền vững và sản xuất gắn với bảo vệ môi trường.
Từ nay đến năm 2030, tỉnh sẽ triển khai sản xuất khoảng 350.000 ha lúa chất lượng cao, trong đó hơn 120.000 nông dân tiên tiến tham gia vào mạng lưới khuyến nông cơ sở và HTX.
Những nông dân này được đào tạo, có kiến thức và kỹ năng ứng dụng khoa học công nghệ, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc vận hành các mô hình canh tác xanh, tuần hoàn, giảm phát thải.
Ông Toàn cho rằng, việc liên kết giữa khuyến nông và doanh nghiệp không chỉ ở khâu hỗ trợ kỹ thuật mà còn mở ra hướng phát triển thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm.
“Chúng ta đang chuyển từ giai đoạn đủ ăn, đủ xuất khẩu sang giai đoạn chú trọng chất lượng, gắn kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ. Đây là bước đi tất yếu nếu muốn giữ vững vị thế hạt gạo ở ĐBSCL”, ông Toàn nhấn mạnh.
Trong khi đó, ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Tập đoàn Lộc trời nhận định về định hướng hợp tác giữa lực lượng khuyến nông và doanh nghiệp. Đồng thời, giới thiệu giải pháp canh tác lúa toàn diện hướng tới phát triển bền vững và giảm phát thải từ kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu nông nghiệp Lộc Trời.
Giải pháp được thực hiện qua hai vụ đông xuân 2024 - 2025 và hè thu 2025 gồm ba mô hình gồm canh tác bán sinh học, canh tác toàn diện và canh tác hóa học.

Trong đó, canh tác toàn diện là mô hình kết hợp tối ưu giữa sinh học và hóa học, ứng dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường như Bacillus amyloliquefaciens, Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae cùng với phân bón hữu cơ, humic, axit amin, Brassinosteroid và các chế phẩm cải tạo đất.
Kết quả cho thấy, giải pháp này giúp bộ rễ lúa phát triển tốt, năng suất cao hơn 19,2% so với canh tác truyền thống trong vụ đông xuân và 10,78% ở vụ hè thu. Lợi nhuận của nông dân tăng đáng kể, trong khi lượng phân bón vô cơ giảm 30%, lượng thuốc hóa học giảm 50%. Đặc biệt, mật số thiên địch tăng gấp đôi so với mô hình hóa học, cho thấy khả năng bảo tồn, cân bằng sinh thái ruộng lúa.
“Mục tiêu của Lộc Trời là xây dựng mô hình hợp tác có sự tham gia của khuyến nông cơ sở, cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp và nông dân nòng cốt. Mỗi bên đảm nhận vai trò riêng nhưng cùng hướng đến một mục tiêu chung là sản xuất lúa hiệu quả, chất lượng và bền vững. Từ đó, tạo nền tảng cho việc tổ chức vùng nguyên liệu quy mô lớn, giảm phát thải và nâng cao giá trị hạt gạo Việt”, ông Thòn khẳng định.
Sử dụng Done giảm 50% lượng thuốc bảo vệ thực vật
Ông YingNan Jlang, đại diện CropLife châu Á, cho biết việc ứng dụng Drone trong sản xuất nông nghiệp giúp giải quyết nhiều thách thức lớn mà ngành nông nghiệp tại châu Á đang phải đối mặt như: áp lực dịch hại tăng cao, chi phí sản xuất tăng, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, sức khỏe và sự an toàn của nông dân bị đe dọa, thiếu hụt và già hóa lao động nông nghiệp...

Bên cạnh đó, nếu so sánh với việc phun thuốc bảo vệ thực vật bằng tay thì ứng dụng drone giúp giảm 70% lượng nước cần dùng, giảm 50% lượng thuốc bảo vệ thực vật nhưng hiệu lực tương đương, thậm chí tốt hơn, tốc độ phun nhanh hơn 30 lần, giảm bớt áp lực thiếu nhân công...
Để ứng dụng thành công drone trong sản xuất, ông YingNan Jlang khuyến cao cần nâng cao nhận thức chung về lợi ích của drone trong việc đảm bảo an toàn cho người dân, nâng cao năng suất và phát triển bền vững; tăng cường hợp tác đa ngành giữa Chính phủ và ngành công nghiệp; tích cực trao đổi thông tin, kiến thức và các phương thức ứng dụng tiên tiến để quản lý rủi ro...


